Monday, August 26, 2019

Bài 21 THƠ LỤC BÁT



                                

A.  TÌM HIỂU VỀ THƠ LỤC BÁT

I.                     KHÁI NIỆM VỀ THƠ LỤC BÁT :
1.      Định nghĩa : Đây là một thể thơ  có hai loại câu sáu tiếng và tám tiếng lần lượt xen nhau đều đặn từ đầu đến cuối bài
Về hình thức, lục bát là một thể thơ cách luật thuần túy của Việt Nam, hình thành trên cơ sở của nền ca dao, dân ca  cho nên  nhạc điệu rất phong phú . Nhịp điệu có hàng chục cách ngắt khác nhau, vần bao gồm vần chân và vần lưng, luật bằng trắc   đa dạng tạo điều kiện thuận lợi cho việc phối thanh, đặc biệt thanh bằng, hài hòa,êm ái .
 Về nội dung, từ sự phong phú, linh hoạt các   giá trị nghệ thuật chính của thơ ( nhịp điệu, vần điệu, thanh điệu ) thơ lục bát có một khả năng rộng lớn trong việc  biểu hiện các trạng thái cảm xúc ,  thông qua các thủ pháp kể chuyện, miêu tả, biểu cảm của  dạng tự sự  và trữ tình
 Chính vì thế, thể thơ lục bát đã xâm nhập sâu rộng vào nhiều thể loại văn học khác nhau  trong nền văn học dân tộc.  Hình thành từ ca dao, dân ca,  lục bát lại  phục vụ   cho việc sáng tác ca dao, dân ca, truyện thơ nôm, các kịch bản ca kịch dân tộc.
2.     Giá trị :  Thể thơ lục bát đã đạt đến sự hoàn chỉnh tuyệt đẹp với thiên tài nghệ thuật của Nguyễn Du trong Truyện Kiều , tiếp tục được phát huy  qua thơ Tố Hữu, khẳng định được sức sống mãnh liệt trong nền thơ ca hiện đại Việt Nam.  Khi  dòng  Thơ Mới  hình thành, Nguyễn Bính với chất “  chân quê”  ,thắm thiết với điệu  lục bát nhịp nhàng, uyển chuyển. Nhiều nhà  thơ trưởng thành từ phong trào này luôn có những bài lục bát “ bỏ túi”, đó là  những câu thơ lục bát của  Tản Đà ( Thề non nước ) Thế Lữ (Tiếng sáo thiên thai) Xuân Diệu ( Chiều )Huy Cận( Ngậm ngùi,Thu rừng ) Thơ sầu rụng   ( Lưu Trọng Lư ). Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, Tre Việt Nam là bài thơ lục bát đã làm nên tên tuổi nhà thơ trẻ Nguyễn Duy .

 Ngày nay, trong nền thơ ca hiện đại Việt Nam, thể thơ lục bát vẫn chiếm một vị trí quan trọng , được  nhiều nhà thơ sử dụng và được đông đảo quần chúng yêu thích .

3.      Hướng đọc hiểu một bài thơ lục bát :
-          Bài thơ lục bát có số lượng câu lớn , tuy nhiên  dựa vào hình thức ban đầu (  cứ mỗi cặp hai câu mới đổi vần ), nên   nội dung câu vắt dòng, đoạn  tối thiểu nằm trong cặp chẵn .
-         Cũng như mọi  thể thơ khác, bố cục  bài  thơ lục bát cũng có ba phần ( mở, thân,kết ) nhưng kết cấu  rất đa dạng, chủ yếu là sự phát triển  theo chiều tích cực hay ngược lại  của trục cảm  xúc .
-          Vần  phong phú, luật phối hợp bằng trắc, cách ngắt nhịp  hỗ trợ tích cực cho nội  dung lời thơ, câu thơ
-          Hình ảnh, hàm súc cũng là yếu tố   cần thiết  phục  vụ cho thơ lục bát thêm giá trị
-          Chất ca dao, dân ca mượt mà, đằm thắm, lạ mà quen,  khiến người nghe vừa thấy gần gũi, vừa mới mẻ, tạo sức lôi  cuốn triền miên . Chất tự sự và trữ tình, lối phú ( kể ) tỉ ( so sánh ) hứng ( bộc lộ tâm  trạng ) vốn thông dụng trong ca dao  được  thể hiện rộng rãi trong thơ lục bát  
II.                 HÁT GIAO DUYÊN :
1.     Khái niệm :  Giao duyên ( giao  nghĩa là gửi,trao; duyên ở đây có thể hiểu là tình người, tấm lòng, nét đẹp về phẩm hạnh, tính cách,  cuộc đời .) Hát giao duyên là  sinh hoạt văn nghệ dân gian của thanh niên nam nữ ở làng quê ngày xưa, khi buổi hội làng kết thúc, chủ nhà tiễn khách ra về trong đêm giã bạn . Các làng quan họ (  tức là nhóm hát  hình thành theo làng )thường hát giao lưu, hát xuyên đêm đến sáng hôm sau mới tàn cuộc hát, bởi về khuya tâm trạng người quan họ được thăng hoa, giãi bày hết qua những câu hát dân ca, đẩy cuộc vui đến cao trào.
          Các bài giao duyên  thường thể hiện tâm trạng tình yêu đôi lứa, khát vọng sống ấm no, hạnh phúc, nỗi nhớ mong, tương tư của người quan họ  .Những làn điệu dân ca mượt mà, đằm thắm, thấm đượm hồn quê như  đưa   người nông dân chân lấm tay bùn thoát ra khỏi sự vất vả, cực nhọc để lạc vào thế giới của thần tiên.
  Họ  tiếp đãi nhau chân tình, mộc mạc. Trai, gái các làng quan họ chỉ  kết bạn với nhau (không  nên duyên vợ chồng ) và cùng nhau đùm bọc, sẻ chia mọi nỗi vui buồn như anh em trong nhà . Hát để thay cho nói, tâm sự gửi cả vào trong câu hát, đó cũng là cái tình của người quan họ đã thấm thía, lan tỏa qua  ngàn đời qua ở đây. Tất cả tình cảm đều được người quan họ thể hiện một cách tế nhị và kín đáo Người quan họ  nào cũng nhận mình làm em, gọi khách là mình  cái tôi cá nhân hàm chứa  sự kính trọng(mình ) khiêm nhường(em )  Tỉnh .Bắc Giang có năm làng trong danh sách những làng quan họ cổ được vinh danh , là cái nôi của phong trào hát  giao duyên.
2.      Đặc điểm nghệ thuật : . Hầu hết  lời ca Quan Họ lấy từ thơ, ca dao và đặc biệt là truyện Kiều, với thể thơ lục bát thông dụng. Thể thơ này có đặc điểm phong phú về vần, kết cấu tiểu đối trong nhiều câu lục và bát,   vừa chuyên chở những tình cảm thiết tha,chân thành, vừa  là phương tiện để những yêu cầu câu hát  đạt được yếu tố vang, rền, nền, nảy vốn  không thể thiếu được. Tính biểu diễn đóng vai trò  quan trọng trong quá trình chuyển tải nội dung và giòng cảm xúc của hai bên quan họ .

-  Vang là kết quả cộng hưởng của miệng hát để khuyếch đại âm thanh. Những yếu tố hỗ trợ vang trong hát giao duyên gồm: giai điệu bài hát phát triển liên tục, sử dụng nhiều âm thêu, luyến, nốt hoa mỹ, âm đệm mở như  ơ, í ơ, í a… với độ ngân dài. Thơ lục bát đóng vai trò tích cực, nhờ  vần , nhịp phong phú.
 - Rền là đặc điểm âm thanh trong câu hát có độ rung đều đều, Rền là cách hát nhấn nhá, luyến láy và rung giọng liên tục không dứt .
 - Nền ở đây có nghĩa phông nền Tiếng đệm vừa làm nền như một dàn nhạc đệm, vừa là chất kết dính các âm điệu của lời thơ, thông qua các nốt luyến, lướt, hoa mỹ, thêu giai điệu đặc trưng của Quan họ và chi phối nhiều đến kỹ thuật hát Quan họ.
- Nẩy hạt là một kiểu sáng tạo nghệ thuật của dòng âm nhạc dân gian. Nẩy hạt có thể xem như những điểm nhấn trong chuỗi âm thanh rền, làm cho câu hát  thêm ấn tượng và độc đáo .,

B.    VIÊT BẮC ( Tố Hữu )
I.                      VÀI NÉT GIỚI THIỆU:
1.      Hoàn cảnh ra đời- Thể loại
-         Tập thơ Việt Bắc ( 1954 ) được Tố Hữu sáng tác trong những năm  kháng chiến chống Pháp, gồm ba mươi bài thơ.  Tác giả sử dụng nhiều thể thơ ( tự do, hợp thể   đặc biệt là các thể thơ truyền thống dân tộc  như lục bát, song thất lục bát, ngũ ngôn ). Nhà nghiên cứu Đặng Thai Mai đã đánh giá “ Việt Bắc là tập anh hùng ca  của cuộc kháng chiến  toàn dân chống ngoại xâm”
-          Bài thơ Việt Bắc  (10.10.1954) viết khi đoàn cán bộ rời  chiến khu Việt Bắc về tiếp quản thủ đô. Không khí tiễn đưa đầy lưu luyến, những người phụ nữ mặc áo chàm, vạt dài lửng gối, khiến tác giả không khỏi bồi hồi, hình dung đến  khung cảnh giã bạn sau hội quan họ. Vì vậy, ông đã  mượn thể lục bát, lối xưng hô mình , ta , em , câu hỏi đáp của những bài hát giao duyên để viết lên  chín chục  câu thơ lục bát này.
2.     Nội dung bài thơ :
-          Bài thơ Việt Bắc  gồm chín mươi câu lục bát,   là những trang tùy bút bằng thơ, ghi lại những khung cảnh chiến khu “hắt hiu lau xám” trong suốt  cuộc kháng chiến, mô tả  con người Việt Bắc  “ đậm đà lòng son”, ca ngợi linh hồn  cuộc kháng chiến : Bác Hồ và tổ chức Việt Minh( từ 1940 đến 1954 ) từ đó,  tác giả bày tỏ một trách  nhiệm   công dân, là sẽ  cùng miền xuôi ra sức xây dựng Việt Bắc tươi đẹp,giàu có
3.     Nhân vật trữ tình và trục cảm xúc :
Qua cảnh vật Việt Bắc, nhân dân và chính quyền cách mạng ở Việt Bắc, nhà thơ chính là nhân vật trữ tình , bộc lộ niềm tin sâu sắc về Tổ quốc , về cách mạng. Tổ quốc chính là nhà nước cách mạng, là nhân dân và  địa bàn các tỉnh vùng Việt Bắc .
  Việt Bắc là một vùng phía Bắc Hà Nội thời kháng chiến chống Pháp (1945-1954) bao trùm nhiều tỉnh ở Bắc Bộ. Ngày nay là khu vực gồm 6 tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên hay còn được gọi tắt là Cao - Bắc - Lạng - Hà - Tuyên - Thái.
Việt Bắc được gọi một cách văn hoa là Thủ đô kháng chiến, bởi đây là nơi trú đóng của đầu não Đảng Cộng sản Việt Nam thời trước  khởi nghĩa năm 1945, và là nơi trú đóng của đầu não chính phủ Việt Minh trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954). Nó cũng được gọi là Thủ đô gió ngàn, tên gọi này được bắt nguồn từ bài thơ Sáng tháng năm của nhà thơ Tố Hữu .
 Bài thơ mang không khí anh hùng ca, vì vậy có thể khắc hà  hai nét : hoàn cảnh anh hùng, hành động anh hùng khi mô tả chân dung con người,cuộc kháng chiến ở Việt Bắc.
4.     Kết cấu:   Đoạn trích gồm những câu mở đầu bản trường ca này, chúng ta có thể xem  tác giả chọn ba  yếu tố để ghi chép và bộc lộ cảm xúc : núi rừng Việt Bắc, người dân Việt Bắc và chính quyền cách mạng.
-         Phần đầu : cuộc cách mạng “ nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh”
-          Phần  còn lại: chiến dịch Điện biên kháng Pháp
5. Màu sắc sử thi :
. Bối cảnh lịch sử và không khí dựng tác phẩm là một yếu tố tạo nên  hoàn cảnh cho các nhân vật ,tự sự và trữ tình : cuộc kháng chiến chống Nhật Pháp, (1940-1954) Đấy là hoàn cảnh anh hùng . Những con người trong cuộc chiến dữ dội, khốc liệt và  dai dẳng ấy , là những  người dân Việt Bắc  chân chất, lam lũ, chọn cho mình một hướng đi , một cách sống : đi theo cách mạng, sống cho lý tưởng cách mạng.
-                          Trước hết , họ cần có một người đi trước, một thủ lĩnh, là linh hồn cuộc kháng chiến , một chính quyền, đó là Đảng , Bác Hồ  , hay những biểu tượng rất cụ thể : lá cờ đỏ sao vàng .            Thứ hai , họ  phải  bám trụ một vùng đất, một lãnh thổ . Với Việt Bắc, đó là “ đất trời ta cả chiến khu một lòng ” . là cả giang sơn này ,.
-                          Thứ ba và sau cùng là nhân dân, đồng  bào, đồng đội, bạn bè, cả người yêu của họ . Họ   đã hành động như những anh hùng . Để tạo dựng một chế độ, cần có ba yếu tố kể trên : chính quyền, lãnh thổ, nhân dân .Từ ba yếu tố này, như kiềng ba chân,một thế trận vững vàng để người anh hùng tiến  công . Chính trong Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi đã khẳng định: Một nền văn hiến , với lãnh thổ có núi sông  bờ cõi riêng,có Triệu  Đinh Lý Trần,có hào kiệt . Đó là động cơ để Nguyễn Trãi hăng hái cùng Lê Lợi kháng chiến . Đây cũng là mục đích chiến đấu của những “hào kiệt thế kỷ XX”  cầm súng Để khắc họa họ, bằng thơ hay văn xuôi,bằng chất tự sự hay trữ tình, các tác giả đều chọn yếu tố dân tộc làm nền tảng .Tố Hữu chọn thể thơ lục bát,có lối đối đáp rất gần với những câu hát giao duyên để sáng tác  Việt Bắc .Cuộc sống,lao động ,học tập,chiến đấu hiện lên rộn ràng, sinh động như không khí tiến công của sử thi .và  toàn bộ  những yếu tố văn hóa,văn học dân gian...thấm đẫm từng câu thơ , đánh động không thôi tâm hồn người  Việt Nam nhiều điều sâu lắng , như thôi thúc họ ý thức dù đang đối diện với  “hoàn cảnh anh hùng”, thì phải biết “ hành động anh hùng”.


II.                ĐỌC HIỂU :
1        . Cuộc cách mạng “ nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh”

   Bài thơ Việt Bắc được Tố  Hữu sáng tác vào tháng 10-1954. Thời điểm này mang một yếu tố lịch sử rất quan trọng và thiêng liêng với  người dân  thủ đô và cả nước : ngày Đảng và Bác Hồ  tiếp quản thủ đô . Trước đó, thủ đô kháng chiến được đặt ở Việt Bắc trong suốt  15 năm (1940-1954).Có thủ đô,nghĩa  là có  một thể chế chính trị rõ ràng ,có chính quyền,có lãnh thổ ,có nhân dân . Mười lăm năm, thời gian đủ để cho một thiếu niên trở thành một chàng trai dạn dày kinh nghiệm, cho một đứa bé chào đời thành một thiếu niên khỏe mạnh,tuấn tú . Đó là quãng thời gian dài . Chính quyền từ Hà nội đến (1940) .Nếu không có lãnh thổ , không có nhân dân, chính quyền ấy có tồn tại không ? Tố Hữu rất thấm thía điều đó .

a       .Nhà thơ vốn nhạy cảm này đã xem mảnh đất,con người Việt Bắc như người yêu, và ông tâm sự, ông đã phải lòng họ . Việt Bắc , vùng đất miền biên viễn của đất nước hiện lên trong thơ Tố Hữu là chiến khu với khí hậu khắc nghiệt, mưa nguồn, suối lũ ,mây mù , với địa hình núi đèo hiểm trở ,đường đi lối lại đầy rừng nứa bờ tre, ngòi sông suối .  Những lời giao duyên sao mà ân tình . Trong khổ thơ  với sáu cặp lục bát, mọi câu lục đều là lời dặn dò “ mình đi có nhớ, mình về còn nhớ”  gói thật gọn trong sáu chữ, đủ  để độ “ vang , rền, nền , nảy” thật đầy âm sắc.
Nhưng đó chỉ là cảm nhận ban đầu . Kháng chiến mười lăm năm, nhà thơ  tìm thấy giữa  Việt Bắc hùng vĩ,dữ dội vẫn thơ mộng, yên bình . Đó là những ngày “trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương,” hay đêm “rừng thu trăng rọi” .Đó là những nương bắp chín vàng dưới cái nắng chói chang của mùa hạ, là những rừng hoa chuối đỏ tươi hiện lên giữa đám lá xanh thắm, là “mơ nở trắng rừng mỗi độ xuân về, là rừng phách mới chớm hè đã đổ vàng . Nhà thơ hạnh phúc lắm , đấy là hoa chỉ có ở Việt Bắc,lại nhiều vô kể  “trắng rừng, đổ vàng” lại đẹp đến bất ngờ “đỏ tươi ”.Cảnh vật đẹp,thơ mộng, rực rỡ, lại rộn ràng trong những  thanh âm chỉ có ở vùng rừng núi : tiếng mõ rừng chiều, chày đêm nện cối , mà mỗi lần nghĩ về,nhà thơ thốt lên “nhớ sao ”.Nhớ nhiều lắm . Cả người đi và kẻ ở không thể nào quên  biết bao kỷ niệm về một vùng đất có “ thủ đô gió ngàn” . Những canh hát quan họ , người nông dân chân lấm tay bùn đã thoát ra khỏi sự vất vả, cực nhọc để lạc vào thế giới của thần tiên
 b    .   Không khí chiến tranh ở đâu ngoài kia rất xa, còn ở đây giữa chiến khu , cuộc sống vẫn êm đềm trôi. Chỉ vì có một ánh sao sáng luôn che chở,dẫn lối : Việt Minh . Theo đề nghị của Nguyễn Ái Quốc, vào ngày 19 tháng 5 năm 1941, Hội nghị quyết định thành lập Việt Nam Độc lập Đồng minh, gọi tắt là Việt Minh với mục đích công khai là "Liên hiệp tất cả các tầng lớp nhân dân, các đảng phái cách mạng, các đoàn thể dân chúng yêu nước, đang cùng nhau đánh đuổi Nhật - Pháp, làm cho Việt Nam hoàn toàn độc lập, dựng lên một nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa". Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân ra đời (tháng 12.1944)tiếp theo với cuộc họp của Quốc dân Đại hội (tháng 8.1945)Nhà thơ dùng những hình ảnh ngòi Thia, sông Đáy,suối Lê để ca ngợi tổ chức Việt Minh,dùng các hình ảnh mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào  như một cách gọi thân thương về quân đội nhân , tổ chức chính trị của nhân dân .
 c      .Nhân dân Việt Bắc trong bài  thơ hiện lên là “người yêu, người thương ” gắn bó với tổ chức Việt Minh  trong mười lăm qua rất “thiết tha mặn nồng”. Chia tay từ nhiệm vụ mới của đất nước, những người cán bộ miền xuôi đã nâng nỗi nhớ ấy lên tầm cao nhất , không thể so sánh được nữa : nhớ gì như nhớ người yêu .Họ là “người mẹ địu con lên rẫy”là “cô em gái hái măng”,là một dáng người lao động khỏe mạnh, loáng thoáng lưỡi dao gài thắt lưng, là một bàn tay khéo léo chuốt giang đan nón ; tất cả họ đã cùng Đảng và Bác Hồ “mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi .”Họ đã san sẻ với cán bộ bát cơm, tấm chăn, chỗ ở, một bếp lửa sớm khuya . Cán bộ cũng cùng họ vui chung không khí kháng chiến, những lớp học I tờ, những đêm liên hoan văn nghệ tưng bừng “đồng khuya đuốc sáng”, cả những ngày tháng cơ quan đầy gian nan mà rộn vang tiếng hát . Trong mắt nhà thơ và người về xuôi, nhân dân Việt bắc dù phải sống nơi “hắt hiu lau xám”mà vẫn “đậm đà lòng son ”.
2        Chiến dịch Điện biên kháng Pháp

a      .Việt Bắc bây giờ được mô tả cụ thể hơn , ,núi đá, rừng cây,sương mù,  và đóng vai trò một chiến sĩ : đánh Tây . Việt Bắc đã giao cho mỗi “người lính” này một nhiệm vụ rõ ràng,rạch ròi . Núi , địa hình lồi, có sườn dốc và độ cao  từ 610 mét trở lên. trải dài khắp miền Việt Bắc ,thì “giăng thành lũy sắt dày”.Rừng, thảm thực vật của những cây thân gỗ trên bề mặt nhiều vùng ở Việt Bắc , giữ vai trò to lớn đối với người dân nơi đây như: cung cấp nguồn gỗ, củi, điều hòa khí hậu, tạo ra oxy, điều hòa nước, nơi cư trú động thực vật và tàng trữ các nguồn gen quý hiếm, bây giờ thì rừng “che bộ đội, vây quân thù ” . Sương mù là hiện tượng hơi nước ngưng tụ thành các hạt nhỏ li ti giống như mây nhưng hiện ra áp mặt đất thay vì trên trời cao.Những “đám mây”này  ôm ấp bốn mặt chiến khu, cả đất trời mênh mông , khiến giặc không thể đột nhập.
  b    . Bên cạnh những người lính được tôi luyện này, nhân dân Việt Bắc đã là lực lượng kháng chiến đông đảo, đầy khí thế . Họ được tổ chức thành hai thứ quân : quân chủ lực và dân công .Những con đường qua núi rừng âm u ,qua đèo vắng lặng, bỗng “rầm rập như là đất rung ”Quân chủ lực “điệp điệp  trùng trùng”, dân công “bước chân nát đá”  .Lối mô tả phóng đại, hình ảnh đậm màu sắc anh hùng ca đó ,giúp ta hiểu rằng cuộc kháng chiến này thần thánh và thiêng liêng, mỗi chiến sĩ, dân công là một anh hùng, đang góp phần làm nên chiến tích không chỉ cho cộng đồng họ mà cho cả nhân loại .Khí thế đoàn quân đi tới, như nguồn ánh sáng mỗi ngày một chói lọi : ánh sao trời và trên đầu súng,ánh đuốc ,rồi đèn pha .
 c     . Chiến công dồn dập ,từ Bắc Cạn ( trận Phủ Thông, Đèo Giàng, )Phú thọ (trận Sông Lô)Yên Bái (trận Phố Ràng)qua Cao Bằng,Lạng sơn,lên Hòa bình ,Tây Bắc, Điện Biên, Tuyên quang (trận đèo De, núi Hồng)vào Tây Nguyên(trận An Khê) về Đồng Tháp ở Nam bộ . Những “tin vui chiến thắng trăm miền được Tố Hữu liệt kê dồn dập , như “thế trúc chẻ tro bay, sắc phong vân phải đổi,ánh nhật nguyệt phải mờ”của Bình Ngô đại cáo vậy .Không khí anh hùng ca là thế đó .
       d     . Vị nhạc trưởng, những thuyền trưởng tài ba lèo lái con tàu kháng chiến đó là ai ? Là trưng ương chính phủ . Đoạn lục bát chỉ tám câu mà khái quát cả hình ảnh đẹp đẽ của chiến khu ,của kháng chiến .Hang tối  lộng gió,  rực rỡ nắng trưa,làm rực rỡ lá cờ đỏ sao vàng, ở đó Đảng và Bác Hồ đang hăng say luận bàn việc kháng chiến : chống giặc ngoại xâm (điều quân cho chiến dịch thu đông)chống giặc đói ,công việc bộn bề nhất (phát động nông dân giảm tô cho địa chủ, mở đường giao thông, giữ đê, phòng chống hạn hán ,thu mua lương thực tích trữ)và công việc quan trọng không kém : chống giặc dốt (thêm trường các khu ).Bộn bề,khẩn trương ,trách nhiệm nặng nề, nhưng biết bao tự hào . Hãy nhìn về Bác Hồ và Việt Bắc  , miền đất thánh của những ai đau đớn, chịu ách quân thù .Không có giáo điều, không tô vẽ giả hiệu,(như lá cờ tự do,bình đẳng ,bác ái giặc Pháp đưa ra )mà chỉ có hành động giúp nhân dân ta “nuôi chí  bền”., góp sức cùng quê hương cách mạng dựng lên nền cộng hòa ,một quốc gia được lãnh đạo bởi những người không dựa sức mạnh chính trị của họ vào bất kỳ một quy luật nào vượt khỏi tầm kiểm soát của Nhân dân trong nước đó. 

III.  KẾT LUẬN :  Với nội dung tư tưởng mang đậm không khí chính trị, Tố Hữu đã khéo léo mượn một   hình thức đậm đà  màu sắc trữ tình , đó là những câu lục bát trong câu hát giao duyên của dân ca đồng bằng Bắc Bộ  .  Trong buỗi giã bạn ngày nào, chàng trai và cô gái lưu luyến chia tay. Họ đã có với nhau những kỷ niệm đẹp , nay đã đến lúc nói lời giã  từ, lòng luôn mong một ngày mai rất gần gặp lại. Câu hát của họ  chứa lời dặn dò,nhắn nhủ , cùng nhau đùm bọc, sẻ chia mọi nỗi vui buồn như anh em trong nhà .  Đó là những  đôi lục bát dìu dặt, những từ nhớ cứ luyến láy, như căn dặn đừng quên, những đại từ xưng hô “ mình, ta” vừa là ngôi II, lại vừa ngôi I, cứ  đi mãi suốt bài giao duyên, cũng như đi mãi suốt 150 câu lục bát.    
 Vâng,.Khúc hát giao duyên vang lên khắp 150 câu lục bát, ngân nga “mình về mình lại nhớ ta . ” Hai con người đã từng “mười lăm năm thiết tha mặn nồng ”, nay kẻ ở người đi, lưu luyến biết bao nhiêu .Người ở lại xin đừng lo lắng “mình về có nhớ ta chăng ?”vì người đi đã gửi biết bao niềm nhớ về núi rừng, con người,chính quyền Việt Bắc , vì “mười lăm năm ấy ai quên, quê hương cách mạng dựng nên cộng hòa .”
 
B.TƯƠNG TƯ ( Nguyễn Bính )

1.  Chất tự sự :
Chàng trai kể lại câu chuyện tương tư. Trong quá khứ, anh đã gặp một cô gái ở    thôn Đông, đối diện với thôn anh ,  thôn Đoài ở phía Tây,  chỉ cách nhau   một  đầu đình, không hề  có sự ngăn trở về không gian (  đò giang ) , đã chung  lại một làng ,và thầm yêu trộm nhớ.  Có một nguyên nhân  chính là cớ để nàng  từ chối tình cảm của anh ,là sự môn đăng hộ đối  chăng ?( kẻ khuê các, người giang hồ ). Vì vậy nhưng anh vẫn tương tư ( ngày không thể làm lụng , đêm không ngủ) Như người bị đau ốm, nhưng anh  cho rằng đó là qui luật của mọi tình yêu và tương tư trước hôn nhân, như trời cũng có bệnh, lúc  nắng, lúc mưa . Cuối cùng,anh vẫn hy vọng bởi hai lý do như sự xếp đặt của số phận : nhà nàng có  giầu ( trầu ) nhà anh có cau, anh ở  Tây,nàng ở đông, là sự đối xứng, thì bắt buộc họ phải .. thuộc về nhau

2Lối  miêu tả và biểu cảm :
Bộc bạch căn bệnh tương tư  và tả  rất cụ thể ( tâm trạng khi yêu người khác phái, là nỗi nhớ mong tột cùng  , và đây là qui luật,chuyện đương nhiên của những con người trẻ
 Diễn biến “căn bệnh” :  trách cô gái tạo khoảng cách để xa lánh anh ( một làng mà chẳng sang ) than thở  với giả thiết phi lý ( đâu phải đò sông ngăn cách) giận hờn ( một đầu  đình, mà tình thì xa xôi)   đau khổ ,oán trách(  ngẩn ngơ suốt nhiều ngày, như chết dần mòn ) bế tắc nhiều đêm ( ai biết cho, biết nói cho ai ) rồi van xin ( bao giờ mới được gặp ?) dù biết sự hy vọng đầy giới hạn  do môn đăng hộ đối

3        . Cách diễn đạt:
Một câu chuyện tương tư không mới mẻ, nhưng đặc  sắc ở lối kể, tả, biểu cảm không bằng  diễn xuất, mà bằng ngôn ngữ  qua thể thơ lục bát đậm màu sắc ca dao, dân ca .
Đó là cách dùng điệp từ  đầy dụng ý, như một sự tô đậm, phóng đại nỗi tương tư . Chẳng hạn “ một người nhớ mong một người”, nói trống không nhưng rất cụ  thể ở con số một tương xứng với nhau. Thời gian trôi qua “ ngày qua ngày lại qua ngày” ,tính ra là ba ngày ,nhưng đó là lượng thời gian hơn cả “ ngày qua tháng lại” như cách nói  của dân gian, mà còn nhiều và rất nhiều. “Lá xanh thành cây lá vàng” Hai từ lá , nhưng tạo ấn  tượng  chết mòn dần, không  thể cứu vẫn : một lá xanh, nay đã là nghìn lá vàng, vì bệnh  tương tư . Hay “ không sang- chẳng đường sang” cách trách móc  như tiếng thở dài ngậm ngùi, bởi cô gái viện cớ mọi lý do ,anh đều hiểu nhưng  bất lực .
 Bên cạnh đó,là lối  tương phản cùng điệp từ ( đường không xa xôi mà tình xa xôi, biết nói cho ai, ai biết cho ) và lối bổ sung trong điệp từ (  thôn  Đoài nhớ thôn Đông, cau thôn Đoài thì phải gắn bó với trầu thôn Đông )
 Những câu hỏi tu từ (cớ sao? Ai biết cho ? bao giờ ? thôn nào ? ) vừa tự hỏi, tự dằn vặt, lường được cả câu trả lời, rồi cuối cùng hỏi mà khẳng định: còn    thôn nào nữa .
 Lối dùng từ  gần gũi  của ca dao ( thôn ,làng, Đoài,đông,đình ) vừa thông tục ( hoa bướm ) vừa ý nghĩa ( thuyền bến ) vừa trang trọng ( nàng,tôi,   cau,trầu, tương tư ) Cách xưng hô  rất chân tình ( ai? bên ấy, bên này )
 Nét độc đáo và  thể hiện tài năng của một nhà thơ mới có  sở trường về thơ lục bát là lối gieo vần rất  khéo, đôi khi chệch âm nhưng vẫn giàu tính nhạc ( giời- yêu) do Nguyễn Bính   dùng từ “ giời” rất dân dã của người nông dân Bắc bộ thay vì “ trời” của thơ mới . Hay “ đành và  đình” hai phụ âm “đờ” nặng nề đi với nhau,  không phá  vỡ   phần vần “anh-inh” .
 Luật bằng trắc của mọi câu thơ lục bát là  bb-tt – bb (câu 6)và bb-tt-bb-tb ( câu 8) có biến  đổi để chở theo tâm trạng buồn da diết : Ngày qua ngày lại (t) qua ngày  , có xa xôi mấy ( t) mà tình xa xôi ,cau thôn Đoài nhớ ( t) giầu không thôn nào ?Có khi quặn đau : bao giờ bến (t)mới (t)gặp(t)đò ?
Nhưng anh vẫn lạc quan, vì  số phận sẽ cho họ bên nhau,   bởi anh đã vận dụng rất logic phương pháp “ Tam đoạn luận” của Descates: hai bên kẻ có cau, người có trầu, hai nhà kẻ thôn Đoài người   thôn Đông. Thế thì họ chắc chắn nên đôi !
 Lạc quan là nét đẹp của ca dao . Thi sĩ mang  cái tôi chân quê  đã đưa tinh thần này vào trong thơ mới, đem đến cho thơ ca hiện màu sắc dân tộc, giữa những luồng tâm trạng bi quan của thi nhân ảnh hưởng thơ ca châu Âu.

Câu hỏi :
1.    Tại sao hai tác giả  lại chọn thể lục bát để sáng tác ? Lối hát giao duyên có những đặc điểm gì ?
2.     Chất sử thi trong   bài  thơ Việt Bắc được thể hiện như thế nào ?
3.    Nét chân quê trong bài Tương tư ?

 (Dalat 5.2017 )

BÀI 20 THƠ NĂM CHỮ


       

   “Sóng” là một bài thơ có nhiều nét độc đáo . Trước hết ,thể thơ ngũ ngôn trường thiên ta thường gặp ở những bài thơ đậm chất tự sự ( Cá nước của Tố Hữu, Đi chùa Hương của Nguyễn Nhượng Pháp, và mới đây nhiều bạn trẻ rất thích chùm thơ ngũ ngôn trường thiên của Nguyễn Tất Nhiên, nhiều bài có ấn tượng đã được nhạc sĩ Phạm Duy chắp cánh bay bổng  bằng những giai điệu đẹp )Như vậy,điều  nhân vật trữ tình –tự sự , mà tác giả muốn ẩn vào để kể câu chuyện tình yêu của mình là  Sóng và Em . Đây là nét thứ hai gây cảm giác thú vị cho người đọc, đặc biệt giới trẻ . Tiếp theo , Xuân Quỳnh viết bài thơ này(1967) khi đã   thành hôn cùng  anh Lưu Tuấn, một nhạc công của đoàn văn công trung ương  vào năm 1964 (sau khi nữ  thi sĩ cho xuất bản tập thơ  Chồi Biếc 1963). Như vậy có thể hiểu tình yêu của sóng và bờ không chỉ là tình yêu đôi trẻ ,mà là  hạnh phúc của người  thiếu nữ trong hôn nhân . Nét cần lưu tâm nhất là nhà thơ mượn hình ảnh gió thổi mặt nước chạm bờ tạo nên sóng, để liên tưởng đến tình yêu . Lối so sánh này rất gần với cảm giác của những người trẻ đang yêu , sự gần gũi , sự đụng chạm giữa nước và bờ … Nét tiếp theo, lần đầu trong mục thơ văn  xây dựng chủ nghĩa xã hội, học sinh được làm quen với một nữ thi sĩ . Xuân Quỳnh là nhà thơ nữ thứ hai sau Đoàn thị Điểm, người dịch Chinh phụ ngâm của Đặng  Trần Côn từ chữ Hán sang chữ Nôm  thế kỷ thứ 17, và Bà Chúa thơ Nôm  Hồ Xuân Hương ,thế kỷ 18 .  Hồn thơ nữ luôn có những nét riêng  độc đáo  . Thứ đến,  thơ của một tâm hồn nữ,  giãi bày tình yêu hôn nhân, hẳn có nét khác người nam . Hơn nữa , ngôn ngữ ,nhạc điệu trong thơ mang đặc trưng của phong cách thơ Xuân Quỳnh .Và nét độc đáo cuối cùng , bài thơ viết về tình yêu hôn nhân, khi miền Bắc đang hối hả công cuộc xây dựng lại đất nước sau nhiều tháng năm kiên cường chống thực dân Pháp, đồng thời gánh lấy sứ mạng “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” vô cùng cao cả , thực hiện trách  nghiệm giải phóng Miền Nam, thống nhất  đất nước, với biết bao “cuộc chia ly màu đỏ” và  “hai người  chia tay sao chẳng nói điều gì, mà hương thầm vương vấn mãi người đi!”
        Đó là những nét ta cần lưu ý, về mặt nội dung và nghệ thuật của bài thơ Sóng  khi giúp học sinh đọc hiểu thi phẩm này .
     Có một số từ ngữ chúng ta cần cắt nghĩa  trong quá trình  cảm nhận bài thơ. Đó là những từ cùng một trường nghĩa   . Về sóng có biển,bờ, gió, dữ dội,ồn ào, dịu êm .lặng lẽ, lòng sâu,mặt nước, mây ,vỗ , phương Bắc,Nam,tan ra ,     Về tình yêu có em ,anh, tìm ra tận , nhớ ,thức,ngủ, nghĩ, trong mơ , không biết nữa,  yêu nhau,nhớ, cuộc đời, năm tháng  ,ngàn năm ,ngày xưa ,ngày sau, nét đẹp tâm hồn
       Xác nhận bài Sóng là một dạng thơ tự sự-trữ tình .Tự sự là kể chuyện . Vậy tác giả muốn kể chuyện gì  ?    Lần  đầu khi tôi  tìm hiểu bài thơ Sóng, có một   người đã nhận định : Bài thơ là lời của một cô gái ,xưng là em , có tên là Sóng .Cô sống trong sông, nhưng “sông không hiểu nổi mình”, Sóng tìm ra biển . Ở đây, cô đã gặp biển và ở lại .Cô đã trải nghiệm biết bao cung bậc cảm xúc trong tình yêu hôn nhân . Với cô, lúc này, cô bộc lộ nhiều nét đẹp tâm hồn điển hình của người phụ nữ Việt Nam , không chỉ trong tình yêu, hạnh phúc gia đình mà trong cuộc sống.
      Vậy, sóng là gì ? Có những yếu tố nào tạo mối liên quan giữa  sóng và tình yêu ?
       Không khí chuyển động tạo thành gió .    Gió di chuyển  trên mặt nước biển, đẩy nước  chạm vào bờ , tạo nên những gợn hoặc cuộn sóng lớn . Khi nam nữ yêu nhau, sẽ có một yếu tố như gió (khát vọng tình yêu  chi phối  những suy nghĩ của khối óc, những xúc động bồi hồi ,có lúc thật vui , ồn ào,dữ dội , nhưng cũng có lúc êm  dịu,có lúc buồn lặng lẽ ) đẩy mặt nước (em ) đến với bờ (anh ) .Đó là  tình yêu .Tác giả đã hẳn nhiều dịp ngồi ngắm sóng biển, thích thú theo dõi từng con sóng đẩy nước chạm bờ, có sự vồ vập,cả âu yếm vuốt ve, cô liên tưởng đến tình yêu hôn nhân của mình .
    Ở hai khổ thơ đầu,nhà thơ đã định nghĩa tình yêu là gì qua hình tượng con sóng, nhưng không dùng lối diễn dịch, mà chọn hướng quy nạp . Khi con tim luôn ở hai cung bậc cảm xúc  cao và thấp nhất , lại dường như đối lập nhau (dữ dội- dịu êm ; ồn ào-lặng lẽ )và khối óc thì “không hiểu nổi mình”, cô không thể lý giải được con người cô ở thời điểm mà ông bà thường gọi là “phải lòng ” một ai đó . Nhưng rồi cô biết đó là hiện tượng mà “ngày xưa, ngày sau  vẫn thế ”,là quy luật , khi Trưng Trắc yêu Thi Sách, đến bây giờ,nhà thơ,nhân vật trữ tình , đang sống trong tuổi yêu đương,sống với trái tim luôn ở hai cung bậc cảm xúc  ,còn khối óc thì đầy khó hiểu, đó là khát vọng tình yêu . Vì vậy , nhân vật “em”là bờ ,phải tìm đến “anh” (mặt nước),với một tư thế rất chủ động ,rất quyết tâm (tìm ra tận ) thì trái tim, khối óc mách bảo họ , tình yêu đấy
    Anh và em là hai đại từ ngôi hai  và cả ngôi thứ nhất  để xưng hô và gọi ,trước hết là mối quan hệ ruột rà trong gia đình, có anh ,người con trai lớn,và em , người nhỏ hơn,có thể cả nam và nữ .Sau đó là chỉ những mối quan hệ thân tình, xã giao trong cuộc sống
    Trong tình yêu, không biết tự bao  giờ,trong ca dao , ta đã bắt gặp lối xưng hô thân tình ,đẹp đẽ này .Giữa anh và em có một từ bắc cầu : yêu nhau .
   Yêu là một động từ ,một cử chỉ thể hiện cảm xúc mãnh liệt,sâu đậm ,chân thành và có khuynh hướng chiếm hữu  của hai nhân vật ta gọi là anh em dành cho nhau. Bởi tình yêu nam nữ bên cạnh những yếu tố tinh thần còn có sự quan tâm về thể xác. Nhưng ở đây, bài thơ đẹp bởi nhà thơ luôn đề cao mặt tinh thần, lý trí, vẻ đẹp luôn “nghĩ về anh , em, về   sóng, về biển ” ,có một chút bâng khuâng của con tim “không biết nữa”.Trong hai khổ ba tư,  hai động từ “nghĩ”,đi liền với một động từ “không biết” như đối lập, nhưng đó là trạng thái tâm lý  yêu đương .Tình yêu luôn tỉnh táo,cân nhắc, nhưng đôi khi cũng có chút bồng bột , buông thả .
    Ở khổ tiếp theo (khổ thứ năm ),tác giả bộc bạch một tâm trạng   rất thường có ở những đôi lứa yêu nhau : nỗi nhớ  Thoạt tiên,nhà thơ mượn hình ảnh con sóng  rì rào vỗ đêm ngày, như không bao giờ ngủ , đó là một quy luật tự nhiên ai cũng biết.Thế thì trong tình yêu nam nữ cũng có một “ triệu chứng” như thế . Cô nhớ người yêu,nhớ trong buổi ban ngày, nhớ vào ban đêm, cả khi nhu cầu sinh lý cần phải ngủ,thì  đòi hỏi tâm lý vẫn  thức trong mơ để nhớ . Hai câu thơ có lẽ hay nhất bài thơ, được tác giả “dôi khổ ”trong một khổ chỉ bốn câu thông dụng, như muốn nhấn mạnh nỗi nhớ của mình . Nhớ là một  động từ,thể hiện hành động trí óc, con tim luôn nghĩ về  một đối tượng với tâm trạng yêu quí lẫn bồi hồi .Nhớ trong khi yêu còn có tâm lý muốn chiếm hữu, muốn gặp gỡ . Nhà thơ trữ tình –chính trị Tố Hữu cũng  ấp ủ một nỗi nhớ những con người,mảnh đất Việt Bắc , khi đã từng gắn bó mười lăm năm, nay ông cùng cán bộ về tiếp quản thủ đô những ngày tháng 10.1954. Nỗi nhớ là lòng tri ân, và mong ước có cơ hội đáp đền  Quang Dũng cũng gửi nỗi nhớ đơn vị Tây Tiến , một binh đoàn với nhiều chàng trai Hà Nội , tiến về Tây  Thanh Hóa ,giáp Lào, thanh trừng bọn phỉ , giữ gìn nền độc lập còn non trẻ của Tổ Quốc, nỗi nhớ đó là niềm tự hào, là lòng ngưỡng mộ ..Mức độ nhớ trong tình yêu dường như mãnh liệt hơn tất cả - cả trong mơ còn  thức-nhớ trong ý thức lẫn tiềm thức . Nhưng đẹp nhất vẫn là nỗi nhớ của đôi bạn trẻ đến mức độ “cả trong mơ còn  thức ”.
     Ở khổ thứ sáu, nhà thơ bộc bạch một tâm trạng khác trong tình yêu .  Điều này có sự nghịch lý giữa sóng và tình yêu. Sóng có khi trôi dạt nhiều hướng, do gió thổi,nhưng tình yêu thì chỉ có một hướng, một phương : phương anh . Cách diễn dạt thể hiện một lời thề đinh ninh : dù trong cuộc sống có bị đẩy ra Bắc,vào Nam, em cũng cũng mãi mãi chỉ nghĩ về anh mà thôi . Đất nước  trong giai đoạn kêu gọi những chàng trai ,cô gái “khi Tổ Quốc  cần, họ biết sống xa nhau ”thì những lời thơ đẹp và ý nghĩa “nơi nào em cũng nghĩ hướng về anh –một phương”Đó là lòng thủy chung Ngay khái niệm thủy chung cũng mang nhiều tầng ý nghĩa .Thủy là sự bắt đầu,chung là kết thúc .Tình yêu đi từ thuở mới yêu nhau ,đến lúc bạc đầu, cuộc sống còn gì đẹp hơn . Người ta vẫn hiểu rằng, trong đời có những lúc chúng ta cô độc . Bố mẹ,anh chị em ,những người thân yêu nhất sẽ rời xa ta,vì  họ có cuộc sống của họ, chúng ta cũng vậy.  Nhưng anh và em sẽ cùng nhau đi hết cuộc đời , không phải do pháp luật  hay tôn giáo quy định, mà do tình yêu tạo nên.
    Vẫn mượn hình ảnh sóng miên man dội vào bờ ,vượt qua bao chướng ngại trên đường đi , Cũng như “em” muốn được gần bên anh, được hòa nhịp vào trong tình yêu với anh. Tình yêu của người con gái thật mãnh liệt, nồng nàn. Sóng xa vời cách trở vẫn tìm được tới bờ, cũng như anh và em sẽ vượt qua mọi khó khăn để đến với nhau, để sống trong hạnh phúc trọn vẹn của lứa đôi.(khổ 7)
 Khổ 8 và 9 có cùng một nội dung . Cuối cùng sóng đã nói hộ nhà thơ nỗi khát vọng được sống trọn vẹn trong tình yêu. Tình yêu lứa đôi đẹp đẽ, nồng nàn như trăm ngàn con sóng nhỏ giữa đại dương mênh mông, muốn được hoà nhịp vào biển lớn của tình yêu cộng đồng:
“Làm sao được tan ra 
  Thành trăm con sóng nhỏ 
Giữa biển lớn tình yêu 
Để ngàn năm còn vỗ”
 Tại sao  ư ? Vì cuộc đời này đầy hữu hạn , năm tháng qua đi, tuổi già,cái chết cuối chân trời , không như sóng , biển bờ đâu . Bai thơ do Xuân Quỳnh sáng tác vào năm 1967, trong chuyến đi thực tế ở vùng biển Diêm Điền (Thái Bình), và sau đó được in trong tập Hoa dọc chiến hào. Bài thơ đã được đưa vào giảng dạy trong hệ thống giáo dục ở Việt Nam, và được đánh giá là một bài thơ đặc sắc viết về tình yêu, rất tiêu biểu cho phong cách của Xuân Quỳnh[1].

   Phong cách tác giả là gì ? Chúng ta hiểu chung chung  khi những nét riêng của tác giả về mặt nội dung và nghệ thuật được lặp nhiều lần ở những tác phẩm khác nhau,ta gọi là phong cách . Vậy,có thể hiểu : phong cách  sáng tác  hay phong cách tác giả là  nhà văn, nhà thơ đó thường viết về những đề tài gì , với nội dung tư tưởng gì ta thường gặpở nhiều tác phẩm  (viết về điều gì ). Và tác giả thường  chọn thể loại nào, lối diễn dạt từ câu,chữ, giọng văn , biện pháp tu từ … ra sao (viết như thế nào ). Ở đây, đề tài Xuân Quỳnh thường chọn vốn rất gần gũi với cuộc sống đời thường , như Tiếng gà trưa,Mái phố, Bao giờ ngâu nở hoa .Gởi lại thành phố nắng, Sân ga chiều em đi , những biến cố ,sự việc rất gần gũi, thân quen được  thi nhân đưa vào thơ mình . Sóng , thuyền biển cũng là những ẩn dụ phổ biến trong tình yêu . Từ đề tài phong phú đó, bao giờ  Xuân Quỳnh cũng hướng lòng về những khát khao cuộc sống trọn vẹn, êm đềm, pha chút chịu đựng, nhọc nhằn,cam chịu của một tâm hồn phụ nữ . Thơ Xuân Quỳnh giàu màu sắc tự sự- trữ tình, nên rất nhiều bài thơ, nhà thơ chọn lối kể thủ thỉ  của thơ ngũ ngôn trường thiên ,nhiều bài rất đặc sắc, tạo ấn tượng đẹp cho người đọc  (Chuyện cổ tích loài người,Thơ tình cuối mùa thu, Lời ru của mẹ ,Gởi lại thành phố nắng )Ngôn ngữ thơ giản dị ,đời thường, không quá cầu kỳ gọt dũa, nhưng giàu âm vang , bởi là tiếng lòng của tác giả .Nhà thơ luôn khao khát bắc nhịp cầu giữa thơ và người đọc , nên không dừng ở việc tả cảnh,tả tình thuần  túy, mà dường như mỗi bài có một địa chỉ người nhận cụ thể .
           Cả bài thơ, nếu kể đến nhan đề, thì tác giả đã mười một lần nhắc đến từ “sóng”. Sóng là hiện tượng vật lý, lại là biểu tượng của một tình yêu nam nữ, bắt nguồn từ những rung động  và tỉnh táo của hai người trẻ , tạo nên sự gắn bó , thủy chung , mãnh liệt và bền vững trước thời gian .
Từ hình tượng “sóng” Xuân Quỳnh cho ta thấy rõ vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu. Sự  chân thành, thắm thiết ,thủy chung trong tình yêu nam nữ, cũng là những phẩm chất đạo đức cao đẹp của người phụ nữ mọi thời đại .
Xuân Quỳnh viết bài thơ này vào những năm 1967, khi cuộc kháng chiến của nhân dân miền Nam ở vào giai đoạn ác liệt, khi thanh niên trai gái ào ào ra trận “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, khi sân ga, bến nước, gốc đa, sân trường diễn ra những cuộc chia ly màu đỏ. Cho nên có đặt bài thơ vào trong hoàn cảnh ấy ta mới càng thấy rõ nỗi khát khao của người con gái trong tình yêu.
“Ôi con sóng nhớ bờ
  Ngày đêm không ngủ được”
Đọc xong bài thơ Sóng ta càng ngưỡng mộ hơn những con người phụ nữ Việt Nam, những con người luôn thủy chung, luôn sống hết mình vì một tình yêu. Xuân Quỳnh xứng đáng là một nhà thơ nữ của tình yêu lứa đôi, bà đã làm phong phú hơn cho nền thơ nước nhà.


 a

Bài 19 THƠ TÁM CHỮ VỘI VÀNG ( Xuân Diệu)


                      
                                
                                  
 *-  Bài thơ được sáng tác trong dòng Thơ Mới ( 1932-1945), có  các điểm nổi bật về nội dung và nghệ thuật: đề cao cái tôi cá nhân- nghệ thuật là sự dung hòa của nhiều nét đẹp trong thơ dân gian, thơ Đường, thơ Đường luật và thơ phương tây
- Tác giả chọn thể  tám chữ, có kết cấu  của văn nghị luận giải thích, khiến người đọc liên tưởng đến Hát nói, một thể thơ dân tộc, đặc biệt lối gieo vần liên vận của thể thơ này, cùng âm điệu reo vui, không khí ca trù trong bài hiện lên rất rõ. Nhưng với phong cách “thơ Xuân Diệu  thường diễn tả lòng ham sống  bồng bột của  De Noailles và Gide, nghệ thuật tinh  vi của Baudelaire”, cách dùng từ rất táo bạo,rất mới ,lại tinh tế theo kiểu phương tây,  lối đặt câu cũng khác xa với cấu trúc ngữ pháp Việt Nam, vì thế màu sắc cổ điển, hiện đại xuất hiện khá độc đáo, gây ấn tượng .
*           
Có thơ từ 1933 , tuổi mười bảy, thực sự bước vào con đường sáng tác khi phong trào Thơ mới đã giành được chiến thắng trên thi đàn, Xuân Diệu trở thành nhà thơ tiêu biểu nhất của giai đoạn phát triển mạnh mẽ và rực rỡ của phong trào Thơ mới 1936-39. Tập thơ đầu Thơ Thơ (1938)có tiếng vang lớn trong tầng lớp thanh niên thành thị , đem đến cho thơ ca lãng mạn đương thời một tiếng nói mới mang ảnh hưởng của thơ ca lãng mạn và tượng trưng Pháp .Thơ ông khi đó đã bộc lộ một cách nồng nhiệt những ham muốn của “cái tôi”trong  đông đảo tầng lớp thanh niên tiểu tư sản .Bài thơ Vội vàng có thể xem là một trong số tác phẩm mang đậm phong cách Xuân Diệu nhất .
         Bài thơ  mở đầu với khung cảnh mùa xuân thật rộn ràng và kết thúc bằng lời kêu gọi hãy tận hưởng tất cả những vẻ đẹp ấy, đón nhận vồ vập ,cuồng nhiệt . Tại sao như thế ?
        Cứ xem bốn câu đầu mang dáng dấp một bài ngũ ngôn là đề từ, vậy ta hãy tạm đặt nó sang một bên . Những câu trong phần thứ nhất (của ong bướm... hoài xuân)là phần nêu vấn đề trong một bài thơ mang mạch lập luận   chặt chẽ của thể nghị luận . Vấn đề gì ? Mùa xuân và tuổi trẻ . Mùa xuân đẹp vô cùng .Hình ảnh , hương thơm, âm nhạc . Một bức tranh xuân hay một khu vườn địa đàng, ở đó con người tận hưởng trọn vẹn những gì là hạnh phúc nhất đời người .Ong bướm đang rộn ràng  trong tuần tháng làm mật ,và cũng đang say sưa  hưởng tuần trăng mật sau ngày cưới.Đồng nội ngào ngạt hương hoa , và khắp nơi ríu rít tiếng chim ca , những khúc tình si . Còn nơi  nào đẹp hơn xuân ở đây . Lối mô tả “của ,này đây và rồi này đây, của ”rất mới trong cách diễn dạt của thi ca Việt truyền thống, nhưng rất phù hợp với khung cảnh vườn xuân tưng bừng và tâm trạng  nồng nhiệt hòa nhập của tuổi trẻ và nhà thơ . Vì họ cũng đang ở giai đoạn đẹp nhất trong cuộc đời .Hàng loạt hình ảnh vừa so sánh nổi và so sánh ngầm (ẩn dụ), hiện lên trong mắt người đọc : ánh sáng chớp hàng mi, sáng sớm mang thần vui gõ cửa, tháng giêng như đóa môi ...Tất cả đều là sự khởi đầu , khởi đầu một ngày mới (mỗi sáng sớm)một sức sống mới (ánh sáng chớp hàng mi,)một tuổi mới (tháng giêng ngon..)Cảm nhận vừa táo bạo, vừa hồn nhiên,vừa tươi trẻ,  đó là nét đẹp tuổi thanh xuân . Nhưng vấn đề tác giả muốn nói không dừng lại ở đó ,mà chính là hai câu kết đoạn : Tôi... vội vàng một nửa . Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân . Tất cả dồn vào từ “vội vàng”. Nếu xét về mạch lập luận, ta thấy tác giả đang dùng lối bác bỏ . Ừ, xuân và tuổi trẻ đều đẹp , nhưng tôi không nhẩn nha thưởng ngoạn, mà phải vội vàng, hối hả, vì hạ sẽ đến, tôi sẽ hối tiếc .
    Tại sao thế . Phần thứ hai của bài thơ, phần giải quyết vấn đề  ( xuân đương tới...chẳng bao giờ nữa)chính là đáp án cho câu hỏi này .Trong đoạn thơ chiếm phần lớn dung lượng toàn bài , nhà thơ đem so sánh giữa tuổi trẻ và mùa xuân,với giọng điệu đầy màu sắc đố kị . Nhưng đó lại là sự thật .Này nhé. Tác giả cũng mượn từ xuân để ví ngầm với tuổi trẻ, nhưng xuân tuổi trẻ hoàn toàn đối lập với xuân đất trời . Xuân tuổi trẻ “đương tới, còn non ”nhưng rồi “sẽ qua , sẽ già , sẽ mất”, chỉ vì  qui luật tạo hóa đã mặc định (lượng trời chật, không cho dài thời trẻ nhân gian,  ) và không có   diễm phúc “hai lần thắm lại”; trong khi đó xuân  đất trời thì tuần hoàn, cứ đến độ sau đông thì lại về , không ai chiếm giữ vị trí ấy .Các cặp từ luyến láy được  nhắc ba lần “nghĩa là, ”hay lượng từ nối “mà, nhưng , nói làm chi, nếu ” vốn rất kiêng kỵ đưa vào thơ, bởi  những diễm từ, uyển ngữ  mới là chốn đi về trong thi ca , thế nhưng với lối văn nghị luận trí tuệ, những từ ấy lại có sức nặng . Hình ảnh nhà thơ đang đứng lên,đưa tay lý giải , tìm cách thuyết phục rằng : Tuổi trẻ , sao trời nỡ hẹp hòi,  lại ban cho ngắn quá .So sánh, phân bua, cuối cùng nhà thơ trẻ kêu to : Còn trời đất nhưng chẳng còn tôi mãi , nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời .Đoạn  thơ này  được viết theo  lối liên vận (vần chân kết từng cặp đi liền : qua- già; mất- chật; gian –hoàn;lại-mãi ..), dùng câu có tám chữ, giọng rộn ràng, réo rắt ,lại có những lý lẽ sắc bén , dễ khiến người đọc liên tưởng đến thể Hát nói , một thể thơ rất quen  thuộc với Nguyễn Công Trứ . Đặc biệt hai câu thơ vừa nêu ở trên,có thể  đặt vào vị trí “thơ”trong phần thân bài của mọi bài  Hát nói truyền thống (vì trong quá trình phát triển, hình thức của thể thơ này đã thay đổi  một vài yếu tố ) . “Thơ” trong Hát nói  là hai câu tác giả dùng của chính mình hay mượn thơ khác đặt vào,thông thường  là những câu chữ Hán (thể Hát nói gắn  liền với chữ Nôm)ngũ ngôn hoặc thất ngôn . Đó là về hình thức.Về nội dung, “Thơ” trong Hát nói  mang trọn thần thái bài thơ .
           Trong những câu thơ còn lại của đoạn thơ, nhà thơ chứng minh vì sao cần sống vội vàng,cuồng nhiệt, tác giả bày tỏ tâm trạng xót xa, mất mát  trong mạch lập luận diễn dịch mà câu nêu ý cơ bản và câu gói đoạn là một. Ta hãy xem : Chẳng bao giờ , ôi ! chẳng bao giờ nữa (ý cơ bản của đoạn diễn dịch), mùi tháng năm... sắp sửa ( các ý dẫn chứng) Chẳng bao giờ , ôi ! chẳng bao giờ nữa(câu gói đoạn).
 Mất mát   về mặt thời gian (rớm vị chia phôi)về không gian(sông núi than thầm tiễn biệt)về vạn vật , (gió hờn vì nỗi phải bay đi ,chim ngừng hót vì sợ phai tàn). Ta nhớ phần đầu bài thơ, mùa xuân hiện lên với “cành tơ phơ phất, yến anh khúc tình si”, đầy nắng gió và rộn ràng khúc nhạc xuân đất trời . Tác giả đã  nhanh chóng nhận ra mùa xuân tuổi trẻ là thế: nhuốm màu chia ly và chẳng bao giờ gặp lại .Trong bài Hát nói,  đoạn thơ này có thể xem là phần dôi khổ(kéo dài), có tác dụng mở rộng phần chính khổ ,đó là đoạn  thơ so sánh xuân tuổi trẻ và xuân đất trời ở trên.Hai câu thần thái bài thơ : Còn trời đất nhưng chẳng còn tôi mãi , nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời . vừa  đúc kết ý tưởng phần chính, vừa đóng lại  ý mở rộng trong phần dôi khổ, và cả toàn bộ phần giải đáp câu hỏi : tại sao cần sống vội vàng . Ừ, xuân và tuổi trẻ đều đẹp , nhưng tôi không nhẩn nha thưởng ngoạn, mà phải vội vàng, hối hả, vì hạ sẽ đến, tôi sẽ hối tiếc
    Sống vội vàng là sống như thế nào ?
    Trong bài Hát nói truyền thống, phần kết luận chỉ vỏn vẹn ba câu, với ba chức năng rõ ràng : dồn (đánh giá đặc điểm nội dung, nghệ thuật  toàn bài thơ)xếp (đề cao bài thơ)keo (liên hệ bản thân). Ở đây , ta có thể đưa phần đề từ (bài ngũ ngôn ở phần đầu bài thơ)đặt vào vị trí dồn .  Xuân đất trời ngợp trong nắng , gió, màu sắc, hương thơm, xuân tuổi trẻ cũng thế, nên sống vội vàng , theo mạch lập luận toàn bài, là hãy “tắt nắng, buộc gió”. Hành động  kỳ lạ , nhưng rất phù hợp với tinh thần toàn bài thơ . Phần xếp  có thể sánh với khổ thơ “mau  lên đi... thời tươi”. Hãy “mau đi thôi” để “ôm, riết, say , thâu”. Ôm sự sống , riết chặt mây gió, say men tình yêu, thâu hết cả thiên nhiên vào lòng .Nhưng tất cả chỉ dừng lại mức độ muốn..Câu kết , keo , liên hệ bản thân, tác giả thể hiện  nỗi khao khát ấy càng táo bạo,vồ vập, mãnh liệt, nhạy cảm, nhục thể nhất : cắn . Cũng vẫn dừng ở mức khát vọng cao nhất.Tuy nhiên vẫn có thể  “dù muộn vẫn còn kịp”, bởi vì  có hai yêu tố rất đáng yêu , đáng trân trọng ở tuổi trẻ : họ  nhiệt tình, vì thời gian của họ còn ít lắm : Mau đi thôi, mùa chưa ngả chiều hôm .
      Bài thơ kêu gọi tuổi trẻ hãy tận hưởng hạnh phúc trần thế , nhằm tìm một lối thoát khỏi thực tại đen tối bấy giờ . Sự đòi hỏi hưởng thụ ấy trước hết và lớn hết là tình yêu, được nhà thơ bày tỏ một cách khát khao, rạo rực, vồ vập, bằng mọi giác quan và cảm xúc nhạy bén, nhưng luôn cảm thấy mong manh , không thỏa mãn, do đó lúc nào cũng hốt hoảng, vội vàng , lo sợ mọi cảm giác sẽ tan biến, tuổi trẻ, tình yêu sẽ phai tàn .
      Xuân Diệu được đề cao là “ông hoàng tình yêu”. Bài thơ “Vội vàng”rất xứng với danh xưng đó .


1. Bài thơ có hai đặc điểm đặc sắc về thể loại ? (  hát nói- thao tác lập luận)  Kết cấu hai văn bản thuộc thể loại này có nét chung như thế nào ? Nêu bố cục –kết cấu cụ thể .
2Phần 1  mang nội dung gì ? Cách nêu vấn đề như thế nào ? Có tác dụng gì?
1.      Phần 2 ,tác giả giải thích như thế nào để mở rộng phần 1? Cách giải thích độc đáo,ấn tượng ra sao ?
1.      Tác giả kêu gọi tuổi trẻ hãy làm gì ? Lối dùng từ, giọng thơ có ý nghĩa gì ?