Friday, July 17, 2026

ĐỂ NHỚ NHỮNG MÙA THI ...

                       

      





  Ba  bà lão chúng tôi, Giang,Bé, Thanh, từng có một thời là  các cô giáo  gõ  đầu bọn tuổi  từ    mười một đến mười bốn,mười lăm. Có một  cửa ải đầu tiên  và gian nan mà chúng tôi phải  vượt qua cho bằng được,đó là  kỳ thi tuyển vào trường  Cao  Đẳng  sư phạm,nơi chúng tôi  chọn ( mà vì ngày ấy   hệ thống trường này ở các tỉnh chưa  có ) là   ngôi trường của thành phố Hồ  Chí  Minh, đào tạo giáo viên  cấp  Hai  cho toàn các tỉnh miền Nam . Bà  Vân Thanh dù cùng tuổi  giấy tờ là   1957, nhưng do   từng tham gia lực lượng  Thanh niên  Xung phong  nên   vào  học sau chúng tôi một  hai khóa  gì đó,bà ấy   có kể mà tôi  không chịu lưu lại trong bộ  nhớ,  tự hào rằng mình thuộc diện “ cán bộ đi học” nên  kỳ thi  vào đây chỉ có hình thức “ hợp thức hóa”. Tôi thì, thôi cứ kể ra  vì dù sao  mọi chuyện đều là quá  khứ,  tôi  có người cha  từng là chiến sĩ  Điện Biên,là cán bộ  cấp cao của ngành nông  nghiệp, quen biết  nhiều,nên ông đã  tìm cách “ lo liệu”, và vì thế,kỳ thi cũng là một  kiểu…như bà Vân Thanh.Chỉ có bà Bé  là phải   gồng mình lên mà học bài,làm bài . May là  ngày  ấy     đất nước vừa thống nhất,trường cấp Hai mở ra khắp nơi, giáo viên khan hiếm vô cùng, nên hình như  ai  nộp đơn là  đỗ,thậm chí  Nhà nước còn tuyển tất tần tật những sinh viên từng học  đại học  các trường tại  Saigon trước đây,ghi  danh vào  học,  và khi về  Huyện,tôi còn  biết có nhiều thầy cô từng là  giáo viên  tiểu học lâu năm cũng được  cử qua dạy trường  trung học  cơ sở, có  người còn  làm Hiệu trưởng,  Hiệu  phó  những  ngôi trường có hai cấp học này , đủ biết ngày ấy  ngành giáo dục cần  thầy cô giáo     cấp Hai đến chừng nào .

  Tôi  không  thể đeo đuổi  đến cùng  nghiệp bảng đen phấn trắng,  vì,có lẽ  Thượng  đế muốn thế,bà Vân Thanh cũng vậy,còn bà Bé   miệt mài lên  lớp,mà còn từ   buổi dạy bọn lau nhau lớp  Sáu,Bảy, sau nhiều năm, bà này nghiễm nhiên  là một cô  giáo  cấp Ba . Cũng phải qua một kỳ thi   tuyển  đại  học  gắt gao,  mà  Tre cùng đi thi thấm thía lắm,  thí sinh đầy mấy chục  gian  phòng mà cuối cùng  gom được ba  lớp,  trong đó có một số  thuộc đại học dự bị  chuyển qua,rồi  số  sinh viên từ  đại học Cần Thơ chuyển lên, riêng  lớp A của Bà Bé thì  một phần tư là lớp thuộc diện năm  xưa của bà Vân Thanh.Tre ấm ức :chị Bé đi thi, học bài có hai tháng hè,  mà  rồi còn  bị sốt rét hành hạ lên xuống,  mà chị  ta    tự tin lắm, rằng : tớ có rớt thì qua dự bị học thêm một năm,rồi trước   sau  gì tớ cũng về một  trường cấp ba nào đó ..  Vậy là bà này  còn bảnh  hơn bà Vân Thanh. Trường dự  bị  đại học  gọi là  Đại học Nguyễn Chí Thanh,  ưu tiên cho  diện thứ  nhất  là     quí vị  con ông cháu cha mà học hành.. thiếu điểm . Họ có bố mẹ là  cán bộ cao cấp của Nhà nước,  và diện thứ hai,  chính họ  là   cán bộ từng một thời  xông pha lên thác xuống ghềnh, đi thi với tâm lý  là “ sang dự bị học thêm một năm “ tất tần tật ngành nào cũng có .

 Tôi nhớ khi  ngồi kể   lại  chuyện này,Bà Vân Thanh  ranh mãnh nhìn tôi :

- Sao  hồi thi vô đại học sư phạm ngoài Bắc, dạo vừa  hòa  bình, bà không nhờ  ông  bô ( cách  Thanh gọi  bố )  gửi  gắm, để phải khăn gói quả mướp vào tận Phương Nam này ?

 Tôi thật thà :

- Tại bố tớ   quá tin tưởng ở tớ..

 Rồi tôi cũng thật thà khai báo :

-Hồi vô Cao Đẳng ở Thành phố Hồ Chí Minh,nếu tớ muốn  bay qua bên Đại học  cũng được,nhưng  lúc này tớ khôn hồn  rồi ,biết mình  ra sao  để sau này   đi   đụng độ học trò còn biết đường liệu cơm gắp mắm.

 Tôi trọ học ở nhà chú Toàn,em  ruột bố tôi,một năm  để hoàn thành chương trình đào tạo cấp tốc của  trường Cao Đẳng  sư  phạm thành phố.  Chú  thím  Toàn có hai  người con trai  lớn  là một cặp song sinh cùng tuổi  với tôi,chọn khoa Hóa  trường  Đại học Sư Phạm. Họ cậy nhờ bố tôi  ,nói  theo cụm từ thuở ấy ,là “gửi gắm”. Từ dạo  về sống chung nhà với  bố,  mẹ Thu,người vợ sau của bố tôi,  và hai  cậu em trai con chung của họ, em cùng cha với tôi tại  Hà  Nội , tôi thấy bố tôi có  nhiều người  bạn  là  thầy  cô giáo bên  Bộ giáo dục,rồi là trường   Đại học  sư  phạm  tạt qua nhà chơi, ăn uống,  trà  đàm.   Hai   người  em sau  này, nhờ qua mối quan hệ của  bố mẹ   mà   nhẹ nhàng  vào học  những  ngôi trường đại học  họ chọn,tôi  biết  rõ vì khi tôi  rời  vùng  quê   ở  Đồng Nai  xa  xăm,quay ra Hà Nội,họ kín hở cho tôi  biết việc họ   học và thi  ra sao, rồi  trách tôi  sao  không năn nỉ bố mẹ .. Họ thì thầm,   đi   Liên Xô   cũng … Tôi  nhớ có  nhiều đêm, nhà chú thím Toàn tiếp những  người  khách   mà tôi từng   bê nước ,dọn cơm mời ở nhà bố mẹ mình, rồi  những món quà rất có giá trị  thím  sai tôi đóng  gói cẩn thận để “ kỉnh các thầy  Hà Nội”.Từ “ kỉnh “ cũng là từ lần đầu tiên tôi  nghe . Những ngày  miền  Nam vừa được giải phóng,tôi theo bố vào,khi  trọ bên khu  cư xá    cũ đối diện với  nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi,khi   qua nhà chú thím,thường xuyên tôi  nghe tiếng thím rầy la hai anh con trai lớn, ( chú  đi học cải tạo ngoài miền Trung ), có lẽ việc học  tập của họ ở trường,trước đây họ học  trường Pháp,nay chuyển qua hệ trường Việt,họ lại  cùng  có hai cô  bồ, tức là   người yêu,theo cách  gọi của vùng này,nên có phần chểnh mảng.  Tôi hiểu thím lo lắng cho tương lai của họ.  Thím rất bận, dù con  nhỏ mới sinh cách đó một năm,nhưng thím vẫn nhiệt tình tham gia công tác Hội Phụ nữ  phường,mục đích là  để có thể   xin  ân giảm cho chú. Hai  anh con trai cũng khổ tâm lắm.Họ bảo : Má la một câu mà nó nằm miết trong đầu cả tháng trời  luôn ! Ngồi  học mà  óc  cứ nóng bừng lên.  Thế rồi sáng sáng ba anh em cùng trực chỉ về hướng đường An  Dương Vương,tôi tạt qua bên trường Cao Đẳng, còn họ thì ung dung   rẽ vào trường Đại học sư phạm. Sau này khi   họ  qua Mỹ,có  dịp gặp lại,tôi biết họ  vẫn đeo  đuổi  ngành chuyên môn họ từng  chọn học là  Hóa,  mặc dù không thuộc về  giảng dạy.Kể  ra họ cũng có  năng khiếu và đam mê, nhưng chú thím vẫn “ chạy chọt”vì có như thế mới yên tâm.

  Hai bà  Bé  và  Tre còn   than thở  nỗi khổ  thi cử từ tuổi lên mười , đúng  ra là mười một.Học hết lớp  Năm ,muốn lên lớp  Sáu, để    có thể  tìm một chỗ ngồi trong  ngôi trường công lập tỉnh, họ  phải trải qua  một kỳ thi  gắt gao. Bà Bé  hồi tưởng :

-  Trường tớ có hai  lớp,ngót  nghét chín chục đứa,mà  thi đậu  vô  hai  trường công ( trường nam  và nữ học riêng ) thì  tổng cộng chỉ đúng ..mười đứa !

Tre đồng tình. Dù  cùng thôn,nhưng nhà Tre ở  trên đồi,từ đó băng qua  ngôi trường mang danh “ phố “ tiện hơn qua trường làng,  nên  anh Đa nuýp xanh hồi ấy có  “ quen biết”,vả lại do  tình trạng sức lực ( Tre bị liệt tay phải ) nên  hai má Mười - Tư cũng  đồng  ý cho Tre xin học ở  đây,trường Võ Tánh, nay là  Nguyễn Trãi , ước  nguyện ban đầu của hai má là “ ở đó  học dễ thi vô trường công hơn”. Bà Bé  kể,ngày   con bé con  biết sẽ đi thi ở cơ sở này, thay vì  kéo ra trường nữ  như các chị trong xóm, có   lẽ  vì thí sinh quá đông  nên họ  mở thêm  mấy  phòng ở   đây, nàng ta lo lắm ,vì thấy lạ nước lạ cái . Nhiều   năm rồi  cứ  nghe “ trường phố “ thì  nghĩ là có lầu cao, phòng ốc  rộng  rinh ,   học trò  mỗi đứa một bàn một ghế,   một hộc tủ, cứ  mỗi một môn  học lại kéo nhau qua một gian nhà khác .. như  mấy lần coi trong  xi nê người ta chiếu cảnh học trò tận bên Tây .   Buổi chiều trước ngày thi,bà này đứng ngẩn ngơ ở  hiên  nhà   nhìn qua ngọn đồi của  ngôi trường phố ấy,có chút lo lắng .May  sao  anh Đa nuýp  xanh   đọc được  nỗi   phiền toái trong đầu nhỏ kia. Mấy chú cháu kéo nhau đi  ..coi,  ( dù là  lén   băng rào  đi lẻn phía sau )  nhưng cô  nàng thấy tự tin ngay. Ồ thì  cũng như  lớp  học  trường làng của mình.   Bốn năm dãy bàn dài mỗi bên,một lối đi ở  giữa,bảng quay  có hai bên,có thể  chui ra sau  để   cô giáo sai lên viết giờ chính tả ( để tụi nó ngồi  dưới lớp  không  cóp bi ) ,   đến  khi cô giáo chấm điểm thì quay lại;  bàn cũng có  năm lỗ,đựng lọ mực chế  sẵn cho năm đứa,có điều  người ta cất cái  cô đê ( tức là cái lọ  sứ đựng mực ) đi  rồi,chỉ còn mấy cái lỗ trống hoác,anh Đa  nuýp xanh  bảo : để  đề  phòng  người ta  nhét bài làm sẵn  vô đó ! Chà,thi cử có hàng trăm  người canh mà  cũng tính chuyện cóp bi nữa,gan thiệt ! Bàn giáo viên cũng cũ  kỹ, có  khi còn   sờn   tróc hơn bàn thầy cô trường mình nữa chứ,  tủ kính nho  nhỏ  cũng cỡ dạng tủ lớp bên trường mình,là nơi    cô thầy cất  sổ sách,cả vở học trò  thu về chấm mà chưa kịp trả .Chỉ khác là  trần nhà có gắn cái ống   trắng dài dài,bóng đèn điện , anh  Đa nuýp  Xanh giải thích . Hồi ấy biến cố Mậu Thân vừa  xảy ra, nên ngày thi bị  dời, cả việc học của anh “dẫn đường”kia cũng có chút  ít   xáo  trộn. Anh dặn :

-Nay ổn rồi,giờ mình biết chỗ thi ra sao, thấy yên tâm hơn phải không ? Mày  đã học  kỹ như cháo mọi thứ,làm tính với  tập làm văn mày cũng ngon rồi,thì cứ  yên tâm về nhà,tối đi  ngủ sớm,sáng dậy ăn  no rồi ra đây thi,có gì đâu.

Ngày Tre đi thi,bà chị Bé cũng tìm cách dẫn cô em  ra trường nữ (  nay họ không mượn thêm trường như hồi  nào )  để ..coi chỗ thi cho biết .Nhưng ông cai không cho  vô.Bà chị cũng động viên cô em  y chang như thế .Và  cô đậu !

 Những ngày ấy, anh Đa nuýp xanh cũng là học trò,vì ôm mộng   làm  sinh  viên của  khoa Quản trị kinh  doanh  trên đại  học để mai kia làm  nghề đếm bạc ở nhà băng,nên anh này cũng cố  dùi mài kinh sử, tất  nhiên cũng  nhọc nhằn biết bao trước những kỳ thi.

- Ngoài  quê, tao cũng thi vô đệ thất trường công như tụi bây  chớ  bộ . Giờ tao lo thi  để lấy cái bằng  trung học đệ nhất cấp, để  lỡ   nếu tổng  động  viên bị kêu đi quân dịch, tao được hưởng lương trung sĩ !

 Ông anh này  già  đanh rồi ,bởi vì    ngoài quê chiến tranh bom đạn ùng oàng,đậu đệ thất,mà rồi phải bỏ dở dang  chuyện học  mấy  năm,  giấy tờ cháy  rụi ,vô đây  học lại  lớp  đệ thất ( lớp Sáu ) mà tuổi lẽ ra  đi thi.. lớp  đệ tứ ( lớp Chín ).  Phải nói là ổng thông minh,vì  đâu   được   ngồi yên trong nhà mà học như hai con bé kia,mà  còn ra vườn,rồi ổng còn nhiều  việc khác nữa, tức là “ người lớn họ sai,thì mình phải làm  chứ”. Thi   lấy bằng trung học   anh Đa nuýp xanh đỗ hạng bình( có  ba  dạng :bình, bình thứ  và thứ,tương đương như  hạng ABC ngày nay )nên ngoài việc có bằng,anh ấy còn được tuyển thẳng vào học trường công,tức là không còn lo học phí hàng tháng nữa. Hồi đó có phong trào “học nhảy”,cũng do thời thế mà ra . Người ta muốn nhanh chóng có những tấm bằng để   nếu đi lính hay  ra làm  công chứng thì  đỡ mất thời gian,vì tuổi đã “ quá đát”. Học  để thi bằng trung học, thay vì  miệt mài  đèn sách  bốn năm,người ta bỏ đi một năm,lớp Tám hoặc  Chín. Rồi  mong giật mảnh bằng tú tài một ( hết lớp Mười một ) thì  bỏ hẳn  việc  ngồi mỏi mòn trên ghế lớp Mười . Nhiều  người bạn của anh Đa nuýp xanh  đã làm thế. Riêng anh này thì vẫn bình tĩnh : trước sau  gì  tao cũng  sẽ vô Đại học ,vì anh bảo: tao được miễn dịch.Gia đình anh có  một anh trai là tử  sĩ, một anh là thương phế binh, họ chưa có vợ con gì cả,mà cha mẹ anh đều  ở tuổi  sáu mươi, lại   mỗi  anh  là  con  trai  ,nên anh cứ tà tà học hành,đặng còn cưới vợ,sinh con,có  cháu mà nối dõi tông đường . Chính sách của Chính phủ  vốn nhân đạo như thế,cũng là  niềm hạnh phúc của anh này .

  Đã đến ngày anh Đa  nuýp   xanh thi  lấy bằng  tú tài một. Có  thêm  tấm bằng này cũng bảnh lắm, dù chưa thể thi hay ghi  danh vào một trường đại học nào đó,nhưng nếu đi lính thì lĩnh lương sĩ quan,từ chuẩn úy trở lên,đi làm thì có thể  thi vào  trường sư phạm tiểu học, ra làm công chức lương  cũng cao. Ngày đó, ông anh rể  ( chồng chị cả ) của Bà Bé cũng  thi  để giật mảnh bằng này. Anh  từng học đến lớp Mười một thì bỏ dở ,phần vì đi lính,phần vì cưới vợ theo lệnh hai đấng sinh thành.      Đi quân dịch,  ông bố chạy cho  cái chức “ lính kiểng”, lính làm việc văn phòng,không phải ra  trận. Đơn vị  anh rể Bà  Bé   đóng ở ngay Đại đội hành chính,  từ là khu vực cuối Chợ Mới  Dalat,nằm ở góc đường Phan Bội Châu trong thành phố. Một ông thì  ngày đêm học  hành phờ phạc,ông kia cứ ung dung  đạp xe đi về,  mà mục đích thì không khác nhau:  phải có tấm bằng tú tài một, để có tú tài hai.Ông thì muốn  học lên  cao, ông thì mơ đến món lương tăng .  Đến buổi thi,  ông  anh Đa nuýp  xanh   đến  hội đồng thi sớm  lắm,  và quay  lại  nhà ,kẻ mặt mũi đầy lo  lắng, ông  kia thì   thong thả  ung  dung  khi  đi,lúc về  hớn hở cứ như là “ đề trúng tủ “ vậy.Ngày ấy  thí sinh thi tất tần tật mọi môn, học   bao   nhiêu  thì  thi  bấy  nhiêu,còn có môn thi ( hai  bà  Bé Tre quên cách gọi  rồi ) đó là thi Thể dục   để được cộng thêm điểm ,   thí  dụ  như  mười,chín   thì  cộng hai,mà  bảy ,  tám  thì  cộng một. Thí sinh  sẽ chọn các môn như  chạy, nhảy  xa, nhảy cao,leo  dây ( tức là  đu lấy một sợi dây  dài,treo từ trên xà,    kẻ leo nhanh  và cao thì điểm nhiều .) Bọn em   nhỏ   nhớ ông anh Đa  núp xanh chọn môn này,vì   anh ấy kể,nếu chạy  nhảy thì thua bọn kia,họ  ở tuổi mười tám khi thi tú tài hai,anh  này hăm mấy rồi,do học lùi mà ! Anh  thí sinh này kể :  mỗi  dây họ cột  sẵn một cái  gút to, thòng  đu  đưa từ  tít  trên cao,  ngó  đã  thấy  chóng  mặt, mà  tao phải   “ bước “ bằng cách  kẹp gút mà đu lên. Khi thi thì quên trời đất,về đến nhà mới thấy  hai ngón chân cái sưng chù vù  như bị ong đốt,phải  nhón nhén   đi   bằng   … gót  chân mấy ngày trời !   Trước đó,từ  khi còn  cách  ngày thi  cả năm, sau sân nhà  Tre có một cây thông già to,cành lá sà xuống mái tôn,anh đã  tìm cách cột chắc một sợi dây thừng,bện từ rất nhiều sợi bao bố to và chắc,đường  kính bằng cỡ bắp tay, dài  cả chục thước,  rồi  đứng lên trên mái tôn,   tập tành nhiều buổi,cũng không  ít lần  té “đo” mái tôn nhiều chuyến !

 

   Đến ngày treo bảng !.Chỉ có một  anh  đậu,mà đậu  rất cao.Còn anh kia  !  Anh  rể  kể :  tao mặc cái áo  field- jacket   rộng thùng thình,  ( thứ áo lính   dài phủ mông,có thắt lưng ở eo, hai vạt áo có thể  nhét vào đó cả một ..bầy gà ) và .. phao, tức là  những trang sách  bài tập giải sẵn,   tháo rời từng trang ,đánh số, nhớ   kỹ  là  mục nào hợp với đề thì  rút ra,kê dưới  đít,rồi cứ lật  từng  trang  chép từ từ , chứ  mình  thân lính, đầu óc đâu mà  học nữa ! Hai  đứa em Bé,Tre  lo lắng,  chứ giám thị  không “ bắt” à ? Thì cứ tưởng họ không thấy .Mà toàn các cô giáo trẻ măng,ai   cũng lạ hoắc lạ  huơ .Thì  họ đi coi thi,mai  mốt chấm thi, đều đi bằng máy bay từ tỉnh khác đến,  chứ đâu phải   người ở đây  !Họ đứng xớ  rớ đằng xa,  vẻ mặt hiền từ .Ối trời,có  ngờ đâu.Họ ngại va chạm lính tráng. Ngày ấy cả  những viên cảnh sát áo trắng,có súng lục đeo hông,cưỡi  những chiếc xe gắn máy chuyên dụng,chỉ  rồ  ga  một cái là   nó  phóng bay cả chục cây số,  súng  giơ lên một cái, là  kẻ  kia đưa tay  ra hàng rồi,   ai ai cũng nể, chỉ   giới  lính tráng là  không. Họ chỉ  dè chừng quân cảnh mà thôi ! Các  cô  giám thị ở xa đến,  cố  giữ vẻ    tôn trọng “các anh”, nhưng mà  tên các anh, số  báo danh thế nào,họ  đánh dấu cả rồi.

        GIANG   và   BÉ 

 (    còn nữa  )