Ba bà lão chúng tôi, Giang,Bé, Thanh, từng có một thời là các cô giáo gõ đầu bọn tuổi từ mười một đến mười bốn,mười lăm. Có một cửa ải đầu tiên và gian nan mà chúng tôi phải vượt qua cho bằng được,đó là kỳ thi tuyển vào trường Cao Đẳng sư phạm,nơi chúng tôi chọn ( mà vì ngày ấy hệ thống trường này ở các tỉnh chưa có ) là ngôi trường của thành phố Hồ Chí Minh, đào tạo giáo viên cấp Hai cho toàn các tỉnh miền Nam . Bà Vân Thanh dù cùng tuổi giấy tờ là 1957, nhưng do từng tham gia lực lượng Thanh niên Xung phong nên vào học sau chúng tôi một hai khóa gì đó,bà ấy có kể mà tôi không chịu lưu lại trong bộ nhớ, tự hào rằng mình thuộc diện “ cán bộ đi học” nên kỳ thi vào đây chỉ có hình thức “ hợp thức hóa”. Tôi thì, thôi cứ kể ra vì dù sao mọi chuyện đều là quá khứ, tôi có người cha từng là chiến sĩ Điện Biên,là cán bộ cấp cao của ngành nông nghiệp, quen biết nhiều,nên ông đã tìm cách “ lo liệu”, và vì thế,kỳ thi cũng là một kiểu…như bà Vân Thanh.Chỉ có bà Bé là phải gồng mình lên mà học bài,làm bài . May là ngày ấy đất nước vừa thống nhất,trường cấp Hai mở ra khắp nơi, giáo viên khan hiếm vô cùng, nên hình như ai nộp đơn là đỗ,thậm chí Nhà nước còn tuyển tất tần tật những sinh viên từng học đại học các trường tại Saigon trước đây,ghi danh vào học, và khi về Huyện,tôi còn biết có nhiều thầy cô từng là giáo viên tiểu học lâu năm cũng được cử qua dạy trường trung học cơ sở, có người còn làm Hiệu trưởng, Hiệu phó những ngôi trường có hai cấp học này , đủ biết ngày ấy ngành giáo dục cần thầy cô giáo cấp Hai đến chừng nào .
Tôi không thể đeo đuổi đến cùng nghiệp bảng đen phấn trắng, vì,có lẽ Thượng đế muốn thế,bà Vân Thanh cũng vậy,còn bà Bé miệt mài lên lớp,mà còn từ buổi dạy bọn lau nhau lớp Sáu,Bảy, sau nhiều năm, bà này nghiễm nhiên là một cô giáo cấp Ba . Cũng phải qua một kỳ thi tuyển đại học gắt gao, mà Tre cùng đi thi thấm thía lắm, thí sinh đầy mấy chục gian phòng mà cuối cùng gom được ba lớp, trong đó có một số thuộc đại học dự bị chuyển qua,rồi số sinh viên từ đại học Cần Thơ chuyển lên, riêng lớp A của Bà Bé thì một phần tư là lớp thuộc diện năm xưa của bà Vân Thanh.Tre ấm ức :chị Bé đi thi, học bài có hai tháng hè, mà rồi còn bị sốt rét hành hạ lên xuống, mà chị ta tự tin lắm, rằng : tớ có rớt thì qua dự bị học thêm một năm,rồi trước sau gì tớ cũng về một trường cấp ba nào đó .. Vậy là bà này còn bảnh hơn bà Vân Thanh. Trường dự bị đại học gọi là Đại học Nguyễn Chí Thanh, ưu tiên cho diện thứ nhất là quí vị con ông cháu cha mà học hành.. thiếu điểm . Họ có bố mẹ là cán bộ cao cấp của Nhà nước, và diện thứ hai, chính họ là cán bộ từng một thời xông pha lên thác xuống ghềnh, đi thi với tâm lý là “ sang dự bị học thêm một năm “ tất tần tật ngành nào cũng có .
Tôi nhớ khi ngồi kể lại chuyện này,Bà Vân Thanh ranh mãnh nhìn tôi :
- Sao hồi thi vô đại học sư phạm ngoài Bắc, dạo vừa hòa bình, bà không nhờ ông bô ( cách Thanh gọi bố ) gửi gắm, để phải khăn gói quả mướp vào tận Phương Nam này ?
Tôi thật thà :
- Tại bố tớ quá tin tưởng ở tớ..
Rồi tôi cũng thật thà khai báo :
-Hồi vô Cao Đẳng ở Thành phố Hồ Chí Minh,nếu tớ muốn bay qua bên Đại học cũng được,nhưng lúc này tớ khôn hồn rồi ,biết mình ra sao để sau này đi đụng độ học trò còn biết đường liệu cơm gắp mắm.
Tôi trọ học ở nhà chú Toàn,em ruột bố tôi,một năm để hoàn thành chương trình đào tạo cấp tốc của trường Cao Đẳng sư phạm thành phố. Chú thím Toàn có hai người con trai lớn là một cặp song sinh cùng tuổi với tôi,chọn khoa Hóa trường Đại học Sư Phạm. Họ cậy nhờ bố tôi ,nói theo cụm từ thuở ấy ,là “gửi gắm”. Từ dạo về sống chung nhà với bố, mẹ Thu,người vợ sau của bố tôi, và hai cậu em trai con chung của họ, em cùng cha với tôi tại Hà Nội , tôi thấy bố tôi có nhiều người bạn là thầy cô giáo bên Bộ giáo dục,rồi là trường Đại học sư phạm tạt qua nhà chơi, ăn uống, trà đàm. Hai người em sau này, nhờ qua mối quan hệ của bố mẹ mà nhẹ nhàng vào học những ngôi trường đại học họ chọn,tôi biết rõ vì khi tôi rời vùng quê ở Đồng Nai xa xăm,quay ra Hà Nội,họ kín hở cho tôi biết việc họ học và thi ra sao, rồi trách tôi sao không năn nỉ bố mẹ .. Họ thì thầm, đi Liên Xô cũng … Tôi nhớ có nhiều đêm, nhà chú thím Toàn tiếp những người khách mà tôi từng bê nước ,dọn cơm mời ở nhà bố mẹ mình, rồi những món quà rất có giá trị thím sai tôi đóng gói cẩn thận để “ kỉnh các thầy Hà Nội”.Từ “ kỉnh “ cũng là từ lần đầu tiên tôi nghe . Những ngày miền Nam vừa được giải phóng,tôi theo bố vào,khi trọ bên khu cư xá cũ đối diện với nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi,khi qua nhà chú thím,thường xuyên tôi nghe tiếng thím rầy la hai anh con trai lớn, ( chú đi học cải tạo ngoài miền Trung ), có lẽ việc học tập của họ ở trường,trước đây họ học trường Pháp,nay chuyển qua hệ trường Việt,họ lại cùng có hai cô bồ, tức là người yêu,theo cách gọi của vùng này,nên có phần chểnh mảng. Tôi hiểu thím lo lắng cho tương lai của họ. Thím rất bận, dù con nhỏ mới sinh cách đó một năm,nhưng thím vẫn nhiệt tình tham gia công tác Hội Phụ nữ phường,mục đích là để có thể xin ân giảm cho chú. Hai anh con trai cũng khổ tâm lắm.Họ bảo : Má la một câu mà nó nằm miết trong đầu cả tháng trời luôn ! Ngồi học mà óc cứ nóng bừng lên. Thế rồi sáng sáng ba anh em cùng trực chỉ về hướng đường An Dương Vương,tôi tạt qua bên trường Cao Đẳng, còn họ thì ung dung rẽ vào trường Đại học sư phạm. Sau này khi họ qua Mỹ,có dịp gặp lại,tôi biết họ vẫn đeo đuổi ngành chuyên môn họ từng chọn học là Hóa, mặc dù không thuộc về giảng dạy.Kể ra họ cũng có năng khiếu và đam mê, nhưng chú thím vẫn “ chạy chọt”vì có như thế mới yên tâm.
Hai bà Bé và Tre còn than thở nỗi khổ thi cử từ tuổi lên mười , đúng ra là mười một.Học hết lớp Năm ,muốn lên lớp Sáu, để có thể tìm một chỗ ngồi trong ngôi trường công lập tỉnh, họ phải trải qua một kỳ thi gắt gao. Bà Bé hồi tưởng :
- Trường tớ có hai lớp,ngót nghét chín chục đứa,mà thi đậu vô hai trường công ( trường nam và nữ học riêng ) thì tổng cộng chỉ đúng ..mười đứa !
Tre đồng tình. Dù cùng thôn,nhưng nhà Tre ở trên đồi,từ đó băng qua ngôi trường mang danh “ phố “ tiện hơn qua trường làng, nên anh Đa nuýp xanh hồi ấy có “ quen biết”,vả lại do tình trạng sức lực ( Tre bị liệt tay phải ) nên hai má Mười - Tư cũng đồng ý cho Tre xin học ở đây,trường Võ Tánh, nay là Nguyễn Trãi , ước nguyện ban đầu của hai má là “ ở đó học dễ thi vô trường công hơn”. Bà Bé kể,ngày con bé con biết sẽ đi thi ở cơ sở này, thay vì kéo ra trường nữ như các chị trong xóm, có lẽ vì thí sinh quá đông nên họ mở thêm mấy phòng ở đây, nàng ta lo lắm ,vì thấy lạ nước lạ cái . Nhiều năm rồi cứ nghe “ trường phố “ thì nghĩ là có lầu cao, phòng ốc rộng rinh , học trò mỗi đứa một bàn một ghế, một hộc tủ, cứ mỗi một môn học lại kéo nhau qua một gian nhà khác .. như mấy lần coi trong xi nê người ta chiếu cảnh học trò tận bên Tây . Buổi chiều trước ngày thi,bà này đứng ngẩn ngơ ở hiên nhà nhìn qua ngọn đồi của ngôi trường phố ấy,có chút lo lắng .May sao anh Đa nuýp xanh đọc được nỗi phiền toái trong đầu nhỏ kia. Mấy chú cháu kéo nhau đi ..coi, ( dù là lén băng rào đi lẻn phía sau ) nhưng cô nàng thấy tự tin ngay. Ồ thì cũng như lớp học trường làng của mình. Bốn năm dãy bàn dài mỗi bên,một lối đi ở giữa,bảng quay có hai bên,có thể chui ra sau để cô giáo sai lên viết giờ chính tả ( để tụi nó ngồi dưới lớp không cóp bi ) , đến khi cô giáo chấm điểm thì quay lại; bàn cũng có năm lỗ,đựng lọ mực chế sẵn cho năm đứa,có điều người ta cất cái cô đê ( tức là cái lọ sứ đựng mực ) đi rồi,chỉ còn mấy cái lỗ trống hoác,anh Đa nuýp xanh bảo : để đề phòng người ta nhét bài làm sẵn vô đó ! Chà,thi cử có hàng trăm người canh mà cũng tính chuyện cóp bi nữa,gan thiệt ! Bàn giáo viên cũng cũ kỹ, có khi còn sờn tróc hơn bàn thầy cô trường mình nữa chứ, tủ kính nho nhỏ cũng cỡ dạng tủ lớp bên trường mình,là nơi cô thầy cất sổ sách,cả vở học trò thu về chấm mà chưa kịp trả .Chỉ khác là trần nhà có gắn cái ống trắng dài dài,bóng đèn điện , anh Đa nuýp Xanh giải thích . Hồi ấy biến cố Mậu Thân vừa xảy ra, nên ngày thi bị dời, cả việc học của anh “dẫn đường”kia cũng có chút ít xáo trộn. Anh dặn :
-Nay ổn rồi,giờ mình biết chỗ thi ra sao, thấy yên tâm hơn phải không ? Mày đã học kỹ như cháo mọi thứ,làm tính với tập làm văn mày cũng ngon rồi,thì cứ yên tâm về nhà,tối đi ngủ sớm,sáng dậy ăn no rồi ra đây thi,có gì đâu.
Ngày Tre đi thi,bà chị Bé cũng tìm cách dẫn cô em ra trường nữ ( nay họ không mượn thêm trường như hồi nào ) để ..coi chỗ thi cho biết .Nhưng ông cai không cho vô.Bà chị cũng động viên cô em y chang như thế .Và cô đậu !
Những ngày ấy, anh Đa nuýp xanh cũng là học trò,vì ôm mộng làm sinh viên của khoa Quản trị kinh doanh trên đại học để mai kia làm nghề đếm bạc ở nhà băng,nên anh này cũng cố dùi mài kinh sử, tất nhiên cũng nhọc nhằn biết bao trước những kỳ thi.
- Ngoài quê, tao cũng thi vô đệ thất trường công như tụi bây chớ bộ . Giờ tao lo thi để lấy cái bằng trung học đệ nhất cấp, để lỡ nếu tổng động viên bị kêu đi quân dịch, tao được hưởng lương trung sĩ !
Ông anh này già đanh rồi ,bởi vì ngoài quê chiến tranh bom đạn ùng oàng,đậu đệ thất,mà rồi phải bỏ dở dang chuyện học mấy năm, giấy tờ cháy rụi ,vô đây học lại lớp đệ thất ( lớp Sáu ) mà tuổi lẽ ra đi thi.. lớp đệ tứ ( lớp Chín ). Phải nói là ổng thông minh,vì đâu được ngồi yên trong nhà mà học như hai con bé kia,mà còn ra vườn,rồi ổng còn nhiều việc khác nữa, tức là “ người lớn họ sai,thì mình phải làm chứ”. Thi lấy bằng trung học anh Đa nuýp xanh đỗ hạng bình( có ba dạng :bình, bình thứ và thứ,tương đương như hạng ABC ngày nay )nên ngoài việc có bằng,anh ấy còn được tuyển thẳng vào học trường công,tức là không còn lo học phí hàng tháng nữa. Hồi đó có phong trào “học nhảy”,cũng do thời thế mà ra . Người ta muốn nhanh chóng có những tấm bằng để nếu đi lính hay ra làm công chứng thì đỡ mất thời gian,vì tuổi đã “ quá đát”. Học để thi bằng trung học, thay vì miệt mài đèn sách bốn năm,người ta bỏ đi một năm,lớp Tám hoặc Chín. Rồi mong giật mảnh bằng tú tài một ( hết lớp Mười một ) thì bỏ hẳn việc ngồi mỏi mòn trên ghế lớp Mười . Nhiều người bạn của anh Đa nuýp xanh đã làm thế. Riêng anh này thì vẫn bình tĩnh : trước sau gì tao cũng sẽ vô Đại học ,vì anh bảo: tao được miễn dịch.Gia đình anh có một anh trai là tử sĩ, một anh là thương phế binh, họ chưa có vợ con gì cả,mà cha mẹ anh đều ở tuổi sáu mươi, lại mỗi anh là con trai ,nên anh cứ tà tà học hành,đặng còn cưới vợ,sinh con,có cháu mà nối dõi tông đường . Chính sách của Chính phủ vốn nhân đạo như thế,cũng là niềm hạnh phúc của anh này .
Đã đến ngày anh Đa nuýp xanh thi lấy bằng tú tài một. Có thêm tấm bằng này cũng bảnh lắm, dù chưa thể thi hay ghi danh vào một trường đại học nào đó,nhưng nếu đi lính thì lĩnh lương sĩ quan,từ chuẩn úy trở lên,đi làm thì có thể thi vào trường sư phạm tiểu học, ra làm công chức lương cũng cao. Ngày đó, ông anh rể ( chồng chị cả ) của Bà Bé cũng thi để giật mảnh bằng này. Anh từng học đến lớp Mười một thì bỏ dở ,phần vì đi lính,phần vì cưới vợ theo lệnh hai đấng sinh thành. Đi quân dịch, ông bố chạy cho cái chức “ lính kiểng”, lính làm việc văn phòng,không phải ra trận. Đơn vị anh rể Bà Bé đóng ở ngay Đại đội hành chính, từ là khu vực cuối Chợ Mới Dalat,nằm ở góc đường Phan Bội Châu trong thành phố. Một ông thì ngày đêm học hành phờ phạc,ông kia cứ ung dung đạp xe đi về, mà mục đích thì không khác nhau: phải có tấm bằng tú tài một, để có tú tài hai.Ông thì muốn học lên cao, ông thì mơ đến món lương tăng . Đến buổi thi, ông anh Đa nuýp xanh đến hội đồng thi sớm lắm, và quay lại nhà ,kẻ mặt mũi đầy lo lắng, ông kia thì thong thả ung dung khi đi,lúc về hớn hở cứ như là “ đề trúng tủ “ vậy.Ngày ấy thí sinh thi tất tần tật mọi môn, học bao nhiêu thì thi bấy nhiêu,còn có môn thi ( hai bà Bé Tre quên cách gọi rồi ) đó là thi Thể dục để được cộng thêm điểm , thí dụ như mười,chín thì cộng hai,mà bảy , tám thì cộng một. Thí sinh sẽ chọn các môn như chạy, nhảy xa, nhảy cao,leo dây ( tức là đu lấy một sợi dây dài,treo từ trên xà, kẻ leo nhanh và cao thì điểm nhiều .) Bọn em nhỏ nhớ ông anh Đa núp xanh chọn môn này,vì anh ấy kể,nếu chạy nhảy thì thua bọn kia,họ ở tuổi mười tám khi thi tú tài hai,anh này hăm mấy rồi,do học lùi mà ! Anh thí sinh này kể : mỗi dây họ cột sẵn một cái gút to, thòng đu đưa từ tít trên cao, ngó đã thấy chóng mặt, mà tao phải “ bước “ bằng cách kẹp gút mà đu lên. Khi thi thì quên trời đất,về đến nhà mới thấy hai ngón chân cái sưng chù vù như bị ong đốt,phải nhón nhén đi bằng … gót chân mấy ngày trời ! Trước đó,từ khi còn cách ngày thi cả năm, sau sân nhà Tre có một cây thông già to,cành lá sà xuống mái tôn,anh đã tìm cách cột chắc một sợi dây thừng,bện từ rất nhiều sợi bao bố to và chắc,đường kính bằng cỡ bắp tay, dài cả chục thước, rồi đứng lên trên mái tôn, tập tành nhiều buổi,cũng không ít lần té “đo” mái tôn nhiều chuyến !
Đến ngày treo bảng !.Chỉ có một anh đậu,mà đậu rất cao.Còn anh kia ! Anh rể kể : tao mặc cái áo field- jacket rộng thùng thình, ( thứ áo lính dài phủ mông,có thắt lưng ở eo, hai vạt áo có thể nhét vào đó cả một ..bầy gà ) và .. phao, tức là những trang sách bài tập giải sẵn, tháo rời từng trang ,đánh số, nhớ kỹ là mục nào hợp với đề thì rút ra,kê dưới đít,rồi cứ lật từng trang chép từ từ , chứ mình thân lính, đầu óc đâu mà học nữa ! Hai đứa em Bé,Tre lo lắng, chứ giám thị không “ bắt” à ? Thì cứ tưởng họ không thấy .Mà toàn các cô giáo trẻ măng,ai cũng lạ hoắc lạ huơ .Thì họ đi coi thi,mai mốt chấm thi, đều đi bằng máy bay từ tỉnh khác đến, chứ đâu phải người ở đây !Họ đứng xớ rớ đằng xa, vẻ mặt hiền từ .Ối trời,có ngờ đâu.Họ ngại va chạm lính tráng. Ngày ấy cả những viên cảnh sát áo trắng,có súng lục đeo hông,cưỡi những chiếc xe gắn máy chuyên dụng,chỉ rồ ga một cái là nó phóng bay cả chục cây số, súng giơ lên một cái, là kẻ kia đưa tay ra hàng rồi, ai ai cũng nể, chỉ giới lính tráng là không. Họ chỉ dè chừng quân cảnh mà thôi ! Các cô giám thị ở xa đến, cố giữ vẻ tôn trọng “các anh”, nhưng mà tên các anh, số báo danh thế nào,họ đánh dấu cả rồi.
GIANG và BÉ
( còn nữa )

No comments:
Post a Comment