Sunday, July 26, 2026

VÀ NHỚ NHỮNG MÙA HOA ĐỎ

 



Năm tháng  trôi qua, các thế  hệ  ông bà mà bây giờ   mọi người quen với từ  F1, F2   đều rủ nhau về   thế   giới bên  kia,   đàn con cháu F3, F4 phải tự thân vận động  mọi chuyện.Họ hiểu rõ qui luật:  muốn  đi đến đích thì phải    tập cho gân cốt dẻo dai từ điểm bắt  đầu,kiểu như  anh  Đanuýp  xanh của hai bà  Bé Tre  , để  thi có kết quả,anh ấy  đã  bền bỉ  tập tành,ôn luyện từng giây phút, dù là  môn Thể dục . Các qui chế của chính  phủ cũng thay đổi,chẳng hạn hệ thống đại học dự bị không còn,diện cử tuyển cũng  giảm,cách tổ chức thi “ hai trong một” giúp  bản thân thí sinh và   phụ huynh nhẹ bớt một gánh lo, phàm trời sinh    như qui luật, gánh    đôi quang  gióng có hai thúng nặng,dù  đi đường xa vẫn  chóng tới đích, vì theo quán tính ,bước  chân đi tới phải có một  cánh tay ve  vẩy,tay kia  giữ lấy đòn gánh, mới có đà mà đi nhanh và đỡ mệt, chứ mà  hai bên hai   đôi thúng  gióng, ( tức là thi  tốt nghiệp xong,  quay ra thi  đại học, ) có khi  phải đội trên đầu một thúng nặng nữa ( thi đại học thứ hai,  vì  lỡ rớt   đợt kia thì còn đợt này )thì rồi, sau đợt thi thì kinh hồn  khiếp vía .

 Hai bà   Giang Thanh  chuyển ngành sau mấy năm    vật vã với  nghiệp,còn bà Bé  và  Tre  vẫn kiên trì đeo đuổi cho đến khi được  nghỉ hưu. Bà chị   hồi  hương,thật may không phải  học thêm  lớp dự bị,  và  rồi có những biến  cố  ,mà  tiếng gọi của  học trò rồi  quên tất  cả. Một năm ròng lên lớp,hè về  lại   mò mẫm  nghiền  ngẫm  để  xem năm sau dạy  làm sao,dỗ làm sao,  cho “nói ít mà học sinh chúng nó hiểu nhiều”. Bắt  đầu hè  là đi  làm giám thị theo sự phân công của Ban giám hiệu,sau đó lại có  một đợt “ đăng ký đi coi thi đại học”.  Số là   trường Đại học trong thành phố cứ vào   hạ lại  nhận  giáo viên phổ thông  vào làm giám thị cùng đội ngũ cán bộ giảng dạy nhà trường . Thầy cô hân hoan lắm,vì nhiều lẽ: không phải đi  qua  huyện khác xa nhà,  lại có khoản thù lao  tương đối hơn so với  đợt đi làm nhiệm vụ chính của một  người thầy. Nhưng trách nhiệm   thì hẳn nhiên  lớn hơn. Đợt  kia chỉ là tốt   nghiệp,cứ  đạt điểm là đỗ.Nhưng bây giờ thì  trường lấy số lượng, thí sinh giành giật  chỗ  ngồi ở  giảng đường, người thầy phải nghiêm khắc hơn xưa gấp bội. Cao  nguyên vào mùa hạ cũng là mùa mưa,   tôi có dịp đưa  bà bạn này đi  làm giám thị, dù  từ nhà bà này lên trường không xa,   xe  gắn máy chúng tôi  bò  từ từ lên con dốc dẫn vào  khuôn viên trường đại học,   thí sinh hàng ngàn em co ro trong tấm áo khoác mỏng  vốn chỉ quen  với  cư dân miền nhiệt đới, cứ  bám  vào nhau mà đi,  chúng tôi  bước  dưới một rừng ô dù đủ màu, đứng  bên kia đồi  nhìn thấy một vòm vải sặc sỡ   khổng lồ cứ nhúc nhích di chuyển chầm chậm,cứ  như  một đàn  kiến  lá  hàng vạn con  đang đỡ   lấy một chiếc lá    cực lớn chưa từng có trên đời,làm sao để đưa chiếc lá ấy tới đích. Trên đầu mỗi thí sinh,phần lớn từ miền Trung tìm đến,  đều đội trên đầu một chiếc lá   hy  vọng. Bổn phận giám thị là phải   giúp đưa những  em xứng đáng và chiếc lá tươi xanh   đến   ngồi đúng chỗ của mình trong khuôn viên  ngôi trường có tiếng đẹp nhất  đất nước này . Bà Bé kể rằng,phòng thi đông vô kể,  có khi cả hội trường với hàng  trăm em,giám thị đứng rải rác khắp  nơi,có  rất nhiều  thanh tra là cán bộ giảng dạy của  ngôi trường đứng ra tuyển chọn thí sinh . Coi chéo,tức  nếu dạy môn tự  nhiên ở trường,thì   giám thị đó  sẽ  “canh chừng “thí sinh thi các phân môn  thuộc khoa xã hội. Đó là tiêu chí thứ nhất  để tránh  “ bày bài”.  Có khi gặp học sinh ở trường,hay chính lớp mình từng  dạy  không ? Có chứ,  nhưng cả thầy lẫn trò cứ coi như không quen,vì ở đây bạn là thí sinh,tôi là giám thị trường đại học,nhớ cho nhé .   Điều nhắc nhở thứ hai hẳn hiếm,nhưng thứ ba,thứ tư là phải  nhớ :  đừng để  sau đợt coi thi này,trường đại học  sẽ “kể tội”mình với Ban giám hiệu chính trường, rằng thì là …Ồ thì   ôm  vô làm chi cho mệt,trên bảo sao thì cứ làm vậy,  vì tương lai còn dài,chuyện thi đua,lên ngạch lương,mới là quan trọng, và còn lương tâm trách nhiệm nhà giáo thì để đâu..Thí sinh dù họ  không nói ra, nhưng họ cười vào mặt đấy,hay  họ sẽ tố cáo khi có thể . Và điều nữa,nhận thù lao cao,thì công việc phải xứng chứ . Bà này tâm sự thêm,ở trường do đặc trưng môn học,có một thời giám thị mà  gặp  buổi thi môn Văn thì ..ôm báo vô   ngồi tréo   chân đọc, cuối  buổi  thu bài về,và có  người từ  đó  suy  ra  mà bảo : mấy cô  dạy Văn coi thi  dễ lắm . Không có đâu,thầy  ơi ! Ừ thì  đề ra có mấy chữ, đại khái “ phân tích  tính chất nhân đạo trong  tác  phẩm Vợ nhặt”. Sách văn mẫu đầy ra đấy,không canh cho chặt là chúng nó lật ra chép,chả nhẽ chấm cho ăn  ngỗng hả,phụ  huynh họ  kiện cho !  Rồi sau một  buổi coi chung với một cô giáo Văn,  khi thi  thử ,mỗi phòng dù hăm  bốn thí sinh cũng cần có hai giám thị,thì ông thầy này lè lưỡi :  bả coi mà tui cũng muốn ..ngưng thở ! Tôi có một đứa cháu,cháu nội chú Q.của tôi, em  ruột ông Bọ nhà tôi, kể :  Trời, trường con hả, có cô hiền, cô dữ,cô dạy vui, dễ hiểu,cô   dạy  hơi khó hiểu  lúc đầu, nhưng khi vô phòng thi thì cô nào cũng là  ..bà la  sát !. Tụi con phải kéo từng cặp bàn ghế  cách xa nhau,để thầy cô đi lại sau lưng  thoải mái,có thể nhòm thấu từng góc kẹt trong hộc bàn trống không của từng đứa ,vì các thứ đều phải lôi ra nền nhà,hay chất lên bục,lên bàn  giáo viên. Vào giờ thì là cấm nhúc nhích,ho hen,chỉ được hỏi cô ấy mà thôi,mà  cấm hỏi vào  đề thi.  Sau  chín chục phút,khi bà cô ôm bài đi,tụi con mới thở phào như trút đi  chín chục phút tra tấn dã man.Mà đề ra  ác  nhơn lắm,cắm đầu cắm cổ làm mới kịp,chứ mà ra sớm là coi như  ít điểm,còn ra  trễ thì ai  mà cho ! Á,đó là qui tắc ra đề của  mấy   ông thầy bà cô mà . Đứa nào mà  là lỡ liếc,hay bày cho đứa  khác,xui  bị     bắt được, là bị ghi tên,cuối  học  kỳ,cuối năm bị xét đạo đức.Mấy đứa học khá muốn thi vô ngành công an càng phải  cố sức giữ gìn,vì lỡ hạnh kiểm loại C là coi như  rớt ngay vòng gửi xe !

 Tôi gặng :

-Nói thiệt  nghe,chứ hồi nào  giám thị  từng đi học, đi thi..có  cóp bi bài của ai chưa ?

 Tôi nghĩ bà già  kia lắc đầu ,nhưng nào ngờ nàng ta  “ tự thú trước bình minh “ ngay :

-    Cũng ..có  .

 Rồi cô nàng kể :

- Ngày đi học, tớ     nhọc nhằn với môn Toán  lắm , trong khi  Vĩnh bạn tớ  thì cực kỳ  giỏi .  Nó có một kho  sách bài tập của anh chị   chuyền   qua,dù toàn bằng tiếng Pháp,nhưng  cách giải  rất dễ hiểu, chứ nó bảo chả có ai chỉ vẽ cho. Nhà nó  có một khu trại cưa to đùng,hai mẹ thì  làm chủ mấy dãy khách sạn ngoài phố,toàn cho  người Mỹ thuê,anh chị đều học trường Pháp,mỗi nó  là qua trường nữ công lập, học Tiếng Pháp như một sinh ngữ phụ,tức làbố mẹ   nó có dư điều kiện để thuê gia sư kèm tận nhà  .  Ngồi gần bên suốt bốn năm  đệ nhất cấp,tớ   giúp nó học Môn Giảng Văn, Tập làm Văn,môn  Anh  Văn, còn nó  giúp tôi  giải nhiều bài Toán khó. Tớ  sợ nhất môn Hình học,mà  nhớ năm  đệ tứ,( lớp   Chín )một đề thi khiến  bây giờ  nghĩ đến,tớ  vẫn còn cảm giác kinh hoàng.Bởi từ một  cô giám thị. Tớ    vốn học yếu  môn này,  nên  cầm đề là đã thấy lo.  Bạn giỏi Toán ngồi kế    bên,  mọi khi  huých tay tranh thủ khi    giám thị   đi  khuất tầm mắt là  được hiến kế,không hiểu sao hôm ấy, cái cô  tuổi cũng đã tứ tuần,tức là thâm niên  trong nghề rồi,  bọn tớ  đôi khi gặp ở sân trường, kính cẩn chào,  Vĩnh còn bảo  rằng  bố mẹ nó  quen với cô này,vì   họ thường gặp nhau ở Nhà thờ Con Gà những  chiều chủ nhật đến đây dự thánh lễ . Vậy là cô ấy với  Vĩnh là người quen,còn tớ  là  đứa có ý đồ muốn cóp pi   kẻ giỏi Toán kia.  Tớ  chọn các  đề Đại số giải trước, đến bài Hình học thì …  Biết giám thị canh me  đến ngộp thở, tớ   cố  tự kỷ ám thị “  cứ  tự tin,sẽ nghĩ ra cách  chứng minh”.Có lẽ  thấy tớ   có ý thức chấp hành nội qui phòng thi,  cô giám thị  rảo qua chỗ khác, vừa lúc đó một đứa ngồi bàn trên  quay lưng  xuống thản nhiên mượn chiếc thước đo độ của tớ.  Đây là thứ thước  cỡ   hai bàn tay, có hình nửa vòng tròn,bằng nhựa, trên mặt kẻ  đủ các số đo độ. Nhỏ này có tật  ngồi  nghiêng từ thuở nào, tức là  nó  kê vở lên bàn  song song với chiều  ngang của  chiếc bàn học trò,  thay vì theo chiều dọc, nên nét chữ của nó đổ nghiêng về một bên.Do  quen  ngồi   nghiêng,  nó quay xuống bàn dưới, vớ  bút thước của bọn  ngồi sau lưng là việc bình thường, mà cặp nó chúng tớ cũng dễ lục lọi, vì nó không  nhét vô hộc như bao nhiêu đứa khác mà  để  ngay bên  hông, chiếc cặp  to cứ  rơi xuống sàn  liên tục, nó mặc kệ.

Do nó quay  xuống,tờ giấy bài làm cũng đặt  nghiêng,nên  vô tình  khi nó  quay lại trả thước,tớ thấy  nó  vẽ một  hình  hai đường  thẳng,tạo thành một góc bẹt như đề bài,nhưng  có thêm một đường  thứ ba.. À,nó mượn thước để tính toán  số độ mà kẻ thêm.. Tớ

 mừng húm : kẻ thêm một đường  thẳng tạo  góc   ba mươi độ ở  giữa góc   bẹt…

 Tôi     có vẻ thất  vọng :

- Thi học kỳ thì có  gì  đáng nói,ý tớ là thi  những cuộc quan trọng hơn kìa .

 Bà kia cãi :

- Quan trọng chứ. Đời học trò gắn với những con điểm, mà có kiểm tra,có thi,mới có điểm,quan trọng hơn là   đo được khả năng học tập của mình . Tớ thấy hễ đứa nào học  hành chăm chỉ,  thi  cử   nghiêm túc  thì ắt  có kết quả tốt.Cho nên  tớ có  nghe  người ta bảo , học tài thi phận, hay cụ thể hơn một bài hát xưa : Đây bao bộ mặt  cười ra nước mắt,than câu học tài thi phận ( ứ ư)  Đây bao tiếng cười khúc khích khoe rằng,phen này tao trượt thì ai đậu cho,là  điều hiếm hoi mới gặp.  Mấy chục năm trong nghề, tớ  cứ nhớ  những điều anh Đa  nuýp xanh dặn Tre mà  lấy  đó làm bài học cho mình :  sống    theo luật pháp,sống  cần mẫn, trung thật.. Nội quy nhà trường  buộc mỗi một đứa học sinh phải chấp  hành, đó là cách  sống mà nay  mọi người tự bảo nhau “ thượng tôn pháp luật”. Sống  cần mẫn,  thì việc học đòi hỏi sự siêng năng phải đặt lên hàng đầu. Có nhiều đứa  lớp tớ,ngày  vào lớp Sáu,thấy cô giáo ghi một hàng  chỉ là thứ ngày tháng trên bảng,mà bằng tiếng Anh,rồi  bà ấy cứ quát “ again”  vang cả dãy   năm phòng học dài,thì bật khóc, do đọc  sai mãi,    và  vì quá  khiếp sợ,thế mà sau này, mấy đứa đó học ở hội  Việt Mỹ  thuộc loại giỏi,mém được  sang Mỹ vào  1976,mừng Ngày Quốc Khánh nước họ..Có phải nhờ  chăm chỉ không ?Còn thật thà thì tớ không nói, vì đi  học có mánh khóe cỡ nào,  các bà cô ông thầy cũng moi ra.Họ cũng tinh quái như bọn mình sau này .

  - Tớ thắc mắc: học   lôm côm thế mà thi sư phạm không phải qua dự bị !

  - À,thi vào đại học phải không ?Bà  lão ngồi  khẽ mỉm cười -  Khi học thi,  hai đứa tớ  tính đường  lùi,vì mỗi đứa một cảnh , nhưng rồi  bỗng quyết tâm. .. Tớ  bỏ học mấy năm rồi, suốt ngày học trò, công việc hàng núi  không tên tuổi, nên  giờ  ngồi  gào bài, rất lâu nhớ .Có một  đứa học trò  hồi tớ về hè   năm học  lớp tám của  bạn ấy,  anh chàng này  đã tâm sự, sẽ thi  Dược,để mai kia  ai đau ốm có nhiều thuốc mà dùng. Năm sau bạn đó học lớp Chín, quyết tâm ấy rõ lắm. Năm tớ thi,mấy bạn  trong lớp đó cũng thi,  đủ các trường,  chả có ai thi sư phạm Văn cả, nên việc mượn tài liệu cho tớ ở các thầy trên trường Cấp Ba Tân Phú dễ lắm.  Nhưng khó là làm sao tớ  nuốt hết mới là  vấn đề .  Tớ  tập trung hai cuốn Sử và Địa,còn Văn thì cũng có phần chủ quan, vì tớ đứng lớp cấp hai bốn năm ròng môn này .  Tự nhiên buổi tối trước khi  thi,tớ lật ra  mấy  đề bài  về Văn học Việt Nam giai đoạn  1930 -45,  có  mấy  câu thơ dạng  thất  ngôn  tứ tuyệt, không hiểu sao không nhớ nổi.Tre giúp tớ bằng cách  cắt một mẩu  giấy,rồi chép lên,cất  vào chiếc  ví vải con con đựng bút đi thi và các thứ giấy tờ. Trên đường đến hội đồng thi, tớ còn  mở ra nhẩm đọc. Hồi đó trường thi Minh Đức nằm trong chợ Cầu Muối,bọn tớ  từ nhà chị Châu khu  Calmette  đi tắt qua rất  gần,nên tớ nhẩm và ..không thuộc. Vào phòng thi,hôm đó tớ ngồi ngay trong góc lớp,nơi mà bọn học sinh làm trực nhật thường  cất chổi,có khi cả mớ rác chưa kịp dọn cũng  dồn vào đây. Giám thị  là các cô sinh viên năm ba hay tư  sư phạm, tớ  đoán thế,vì họ  nom trẻ hơn tớ nhiều .Và cũng hẳn vì thấy tớ già xọm nên họ chỉ tìm đến khi ký giấy làm bài   khi buổi thi bắt đầu,còn lại họ canh chừng bọn tuổi phổ thông.  Đề thi đúng là  “thơ ca  Việt Nam  giai  đoạn  1930-45”. Tớ ..nghĩ ngay đến  “bài thơ  trong ví !”. Ví là một chiếc túi vải  dày tự may,  bằng  một phần ba trang vở, miệng kết thêm một chiếc   phec mơ tuya,có tờ  giấy dự thi  khá to,  rồi mấy   tờ giấy bạc lẻ,  bài thơ  nhét   nằm trong tất cả,  nhưng  chỉ cần vờ  mở ví  để đổi lấy  cây  viết  là … Nhưng tớ  chưa thể làm thế,  cứ tập trung   đọc kỹ đề,  dựng một dàn ý,rồi  viết mở bài, ý tứ tuôn dần,nhưng  cố hết  sức  mà  bốn câu thơ “  ăn điểm đó” không chịu hiện lên trong óc tớ . Chợt có một giám thị hành lang đi   lấy số kiểm diện, tức là số thí sinh bỏ thi,cả hai cô này  cùng ngước nhìn, rồi cười chào, thế là tớ .. Chỉ cần đọc lén được   một câu đầu,ba câu kia hiện lên rõ mồn một.Tớ   vội moi hết viết  ra,tống chiếc ví  kia vào sâu trong hộc bàn, mà vẫn thấy tim đập dồn  dập,mồ hôi túa ra,dù không khí trong phòng  lẫn  ngoài trời,Thành phố Hồ Chí Minh vào mùa mưa,mát  dịu . Tớ là đứa  nộp bài sau cùng, hai giám thị nhìn nhìn tỏ vẻ khá hài lòng với con mẹ thí sinh già đầy mánh khóe  này !

 Tôi thở phào, nhưng buột mồm :

- Nhờ vậy mà khỏi phải sang dự bị .

 Bà kia khoe:

- Hồi đó tớ  như có  người cõi trên  che cho, thí dụ bên Địa tớ  nhai chương Cá khá kỹ,thì  đề ra   ..Cá. Sử  tớ   học kỹ chương “  Xây dựng kinh tế xã hội chủ nghĩa miền Bắc “  giai đoạn,hình như là  1960- 65,thì  … đề ra tương tự .. Có thể đây là  kỳ thi   với tớ, là  khó khăn  nhất,vì  học  chả ra hồn,thi thì may mà  “mèo mù vớ cá rán”.. Khó khăn nhất trong cuộc đời làm học trò của tớ . Giờ  hồi tưởng lại cảnh “mở ví, vờ lôi bút khác ra, nhét bút kia vô, rồi đọc nhanh mấy câu thơ” mà tớ vẫn chưa hoàn hồn .

 Tôi cũng hùa theo :Ừ thật là may.Chỉ  nghĩ cái cảnh  giám thị lùng sục sau lưng,thấy ví trong hộc,  moi ví ra, mở ví,có mấy câu thơ..

 Bà thí sinh một thời bỗng thở dài :

- Thì hồi vừa  lâm trận đã  vội buông kiếm, rằng ta  sẽ học dự bị một năm.. Cùng đợt về phố với tớ có một cô nữa,cô ấy  vào dự bị ..

 Bà này tâm sự :

-Hồi nhỏ,  tớ  học hành chả có ai nhắc nhở, trừ một  người,anh Đa  nuýp xanh.Khi tớ mới vào đệ thất,mười một tuổi, thì anh ấy  đã  hai mươi, tức là  trưởng thành rồi.Tớ chả hề biết  đây là một chiến sĩ cộng sản, mà chỉ thấy là một người   ham học, dù  cuộc sống thiếu thốn, vất vả trăm bề .Lý do  ham học :

-Tao nói mày nghe nhe, là mai mốt mày muốn làm  thầy giáo dạy học trò chứ gì ! Mày phải học  mấy năm ròng ở đại học,nhưng kiến thức ở đó toàn  dạng nâng cao,còn  những điều mà  học sinh cần, là tất cả những  gì  người thầy tích lũy suốt mười hai năm học   từ tiểu học, lên trung học  nhất cấp ( cơ sở ) và nhị cấp ( phổ thông )…

-Nhưng anh muốn vô làm trong nhà băng mà ,thì anh có cần  học đủ thứ ở trường không ,bộ chỉ giỏi tính toán là  không đủ sao ?

Hai đứa em vặn vẹo,Tre còn lo :

- Em tính vô sư phạm như chị Bé,nhưng cái tay em..Mà người ta có bắt thi  vấn đáp,để   chấm điểm  ngoại hình vào cách đối đáp,viết bảng của   người đi thi ..

-Thì con bé Tre học làm thầy kiện đi,học ngành Luật  á. Muốn xử một vụ án, mày cần phải hiểu vì sao  người ấy phạm tội,đâu phải cứ hễ ăn trộm là  xấu,vì đằng sau hành động ấy là  gì  chứ .. Rồi   con Bé chị muốn học  khoa sư phạm,thì cũng cần hiểu về con  người hơn ai hết.. Thì  tao..

 Anh chưa thể  nói những nỗi lòng của anh với   lũ trẻ con.Mãi đến lúc anh thấy mình sắp phải chia tay với miền  quê này ..

  Tôi không  là phụ huynh của một cô cậu học trò nào ở  ngôi trường bà bạn tôi  làm nghề giáo mấy chục năm. Trường này một dạo có hai cấp,bọn trẻ luôn suýt  soa  những cô  giáo “dạy vui,dễ hiểu “ đa phần là  những cô  ..chống ề ,đặc biệt khối cấp hai. Tôi hiểu,vì  son rỗi nên họ  dồn hết  niềm vui cho công việc , cho học trò. Nhưng chúng cũng thêm:các cô này coi thi..thì sợ luôn!  Thế  đấy, bởi có dịp “ rà soát”thời đi học của họ,  những ông thầy bà cô này có tiếng chăm chỉ,thông minh,   học hành đỗ đạt đâu ra đó,mà họ chọn việc chăm trẻ  cũng vì một ước mơ là bọn trẻ sẽ là bản sao của chính mình . Tôi hiểu chàng trai hai mươi  ngày ấy vì sao mà ham học đến thế ,sống  nghiêm túc đến thế .

 Hai bà  Bé Tre có lần kể cho tôi nghe một kỷ niệm về  người anh đặc biệt này của họ. Hồi ấy chương trình   phát thanh mỗi tối,  đài địa  phương trên chiếc radio nhỏ có đọc thông báo về các chuyến bay trong ngày từ nơi này đến các tỉnh miền Nam.Chị Nhụy  hồi ấy luôn  ngồi nghe cùng, và cứ đến lúc cô xướng  ngôn viên đọc “ xe ca đi phi trường khởi hành lúc …giờ “ thì người chị đã đọc to lên trước câu này,chỉ  thiếu  cụm từ “lúc ..giờ “. Ba đứa bé, kể cả  nhỏ  Vĩnh, cũng cay cú lắm.  Bởi  Vĩnh có  chị gái  là  chiêu đãi viên hàng không,  ngày nào cũng có mặt trên các chuyến bay .  Muốn hỏi  người chị chuyện  này,hẳn chị sẽ bảo:  ôi, việc  của đài radio, chị nào biết .Hoặc là  :ôi chị bận lắm , mà em   thắc mắc để làm gì nhỉ .. Thế là chỉ biết chạy đi  nhờ anh Đa  nuýp xanh hiến kế.  Các   nhóc tin tưởng và hy vọng, vì anh này  cũng từng  đi  vô  Saigon thăm chị ,về miền  Trung ăn tết cùng mẹ, đi mỗi chuyến là được tặng một chiếc túi du lịch to, đựng được    cả hai chục ký gạo, rồi  vở  và viết  nguyên tử bấm,  hẳn là anh  có biết.   Anh này bỏ công bỏ chuyện ngồi rình nghe, vì ảnh  không có radio,  mãi thì cũng tìm ra   đáp số .Tức là cứ có    ba chuyến bay đưa khách từ  Dalat đến  khắp các tỉnh từ Quảng Trị đến Cà Mau,trong cùng một ngày,một giờ,  ,thì sẽ có một chuyến xe ca,tức là xe  hơi lớn chở khách, sẽ đón khách tập trung ở khu Hòa Bình, đưa họ  đến phi trường tận Liên Khương, Đức Trọng. Chị Nhụy tuổi cũng cỡ anh  Đa  nuýp Xanh nên phát hiện  ra  qui luật này,nên cứ hễ  nghe xướng ba chuyến  bay là hiểu câu kế tiếp : xe ca đi phi trường sẽ khởi hành lúc .. để khách  biết trước mà chuẩn bị . Khỏi phải nói  ba con nhóc mừng đến cỡ nào,còn ông anh kia chỉ tủm tỉm cười.. trước  vẻ cáu kỉnh của bà chị lớn . Bây giờ già đầu mới thấy thương ông ấy,sao việc  nhỏ  xíu vậy mà cũng  bỏ công bỏ chuyện  giúp chúng nó,là chỉ vì muốn đàn em được vui vẻ,hạnh phúc. Những điều ấy  anh chiến sĩ cách mạng kia học ở đâu?Ở sách vở, ở nhà trường,ở cuộc sống,  và cũng đã phải trả giá ,tức là cũng phải qua những kỳ thi không phải chỉ là   những bài viết   trên  ghế học trò ,mà là  cuộc chiến một mất một con  với  cái  đúng, cái sai, cái thiện, cái  độc …  nghiêm nhặt.

 Bà Bé còn kể thêm:

- Hồi nhỏ tớ với Vĩnh Tiến tham gia phong trào hướng đạo. Cứ sáng  chủ nhật  là  vô chùa, dù nó có đạo, nhưng đi lễ với gia đình chiều chủ nhật, sáng nó cũng chịu khó qua chùa Linh Sơn  với tớ rồi cùng nhau ra đồi cù,vì  hướng đạo sinh tập trung ở đây khá  đông .Lễ  ngắn,chỉ độ dăm phút.Có một nhà sư già ra  thỉnh lễ.Ông người miền Nam,đọc  xướng một câu kinh mà mãi mấy chục năm sau, tớ mới nghiệm ra,là nhờ học  thơ  thời  Tiền Lê,một bài thơ của nhà sư Pháp Thuận  có từ “Vô vi

 Câu kinh ngày ấy tớ  nghe  là “ đệ tử chúng con thường  vô  vi. Nhưng gây bao tội ác bởi lòng mê. Sống trong sinh tử đã bao ngày”. Do sư thầy người gốc Nam Bộ,ông đọc   theo tiếng gõ mõ,nên sau mỗi từ đều ê  a, lên  bổng xuống trầm,   nên đọc hai  từ “vô vi “mà  nghe như là “ vô vị”

Vì vậy mà  bọn tớ   cứ  thắc mắc ,nhưng  chả biết hỏi ai .Tre còn bé,nó  lanh lẹ,quyết đi theo các chị vô chùa một bữa. Nó cũng bỏ  giày,đi tất, quì hàng cuối,chắp hai tay, tai vểnh lên nghe nhà sư  đọc,rồi cuối cùng nàng ta

 khẳng định “ đó là  ..xôi vị “, một món bánh rất  phổ biến ở đất Nam Bộ .  Ừ,nghe cũng có  lý .Ở chùa thường cúng   Phật món chay,mà xôi vị thì chỉ có đậu xanh và đường,nếp..Anh Đa nuýp xanh nghe bọn con nít tranh cãi thì phì cười, rồi sau đó đi hỏi nhiều  người,hẳn thế,  anh bảo :

- Vô vi có nghĩa là không làm điều xấu.  Còn cụ thể thì tụi bay cố học lên nữa là sẽ hiểu thôi.

Rồi anh lại cười to :Ôi tao nhiều khi đau đầu  với việc của mình,mà    có tụi bay đeo như kiểu bữa nay, tao quên hết  mệt  nhọc , vất vả .

 Bà lão Bé đã mang theo tâm tình “vô vi”suốt mấy chục năm  , trong quan hệ với  người thân, với hàng xóm,  công việc, hẳn nhiên có  những  buổi lên lớp, rồi học chuyên môn, rồi coi thi,chấm thi, cố gắng “ vô vi” :đừng làm điều  xấu.Lắm khi bị hiểu lầm,bị lợi dụng, bị  khinh dễ,rồi  thấy  tổn thương, nhưng rồi tất cả đều qua .

 Thời gian trôi nhanh.Người anh kia đã thực hiện được ước mơ  “   giữ đất,giữ đất,  xây dựng một chính quyền thương dân như Bác Hồ từng khao khát”, còn đám trẻ con ngày nào  nay tóc cũng đã bạc,mắt mờ, chân chậm. Mấy hôm nay miền cao nguyên nắng đẹp,thời tiết thật hiếm hoi  khi đất trời  vào hạ,tôi  rủ  bà bạn già này đi lên  nghĩa   trang liệt sĩ  thành phố  viếng mộ  những  người bạn của anh Đa  nuýp xanh ngày xưa . Tôi  quen một chị   có chồng làm công việc quản trang ở đây,mỗi lần ghé là chị cho  mấy nải chuối sứ,đều quả to tròn,chín vàng hườm,bảo mang về mà nấu chè.Ở đây chuối được  người dân mang đi  thắp nhang rồi để lại, anh chị  gom   về  dấm chín  rồi đem sấy khô ,  ai đến thì tặng họ. Nhưng chúng tôi  chỉ mải mê ngắm những cành hoa đỏ thắm   quanh các bức phù điêu ở nghĩa trang. Tôi không rõ tên loài hoa này, đó là  những câu cổ thụ ,cao to như cây vối, mà hoa thì  từng chùm,xinh xắn vô  cùng.Còn  vô số loại hoa khác, đều có màu đỏ . Bà bạn già bất chợt đọc khe khẽ :

  Đất cao nguyên thắm  máu anh hùng

  Nên Dalat có nhiều hoa đỏ .

  Tôi đi giữa  núi đồi lộng gió

  Nhớ vô  cùng các chị các anh

 Tôi nhận   ra đây là mấy câu thơ của nhà thơ Giang Nam,  ông viết một lần  lên thăm   xứ ngàn hoa này một ngày đầu mùa hòa  bình . Tre từng bảo : Mỗi lần có dịp viếng nơi này,ngắm những màu hoa đỏ,lại nhớ đến mùa thi thuở mới vào đời .Tại sao ? Hồi đó hai  thí sinh kia học thi với tâm thế “ có thi cũng hỏng” nên  cứ tối tối là  chui vào mùng đánh một giấc,  sáng thì lo cơm nước, xuống tận La  Ngà mua cá tươi, lên tuốt chợ Định   Quán mua đậu xanh,   trưa không dám ngủ vì có lời dặn “ ở rừng đừng ngủ trưa, sốt  rét nó theo đó”nên mò ra dãy lớp  gỗ,là dãy mới dựng sau bảy lăm , song song với dãy nhà họ đang ở,   ngồi nghe con tắc kè già đếm  nhịp” tắc kè “ mà  cứ  như nó bảo “rớt liền”,  chiều  về trời mát,học một tí thì  trời sập tối,lại vô  mùng . Nhưng có bữa không ai bảo ai, cũng  lập ra  những thời khóa biểu mới.  Đi chợ mua đồ ăn  cho cả tuần,học bài không ngồi trong buồng có chăn chiếu sẵn, dễ buồn ngủ, mà lớp học   trống không, thoáng  đãng,mỗi kẻ sĩ một phòng,tha hồ mà  rống,tối cũng chong đèn đến khuya,dò bài cho nhau.  Hai bộ  đề thi đã được Bộ giáo dục in cho, cứ thế mà học , vậy mà  bữa đầu thì  ngán ngẩm . Mới hay,trong mỗi cuốn sách  dày,nàng nào cũng có nhét một tấm bưu  ảnh in  hình hoa hồng đỏ thắm, thứ hoa vốn  rất  nhiều ở mọi phố phường miền cao nguyên giá lạnh.Nhét làm dấu để khi cần lật ra cho nhanh,đó là lý do  thứ nhất,thứ hai lấy tấm bưu ảnh này vì nó rất sẵn,người ta in từng tệp,có bìa  bọc bên ngoài  như một chiếc túi,bán cho khách du lịch, Tre  và bà chị  đều  mua hoặc được tặng,  xếp đầy  kệ sách. Nhưng hết thời mở ra mở vào trong tâm trạng “học cầm chừng “ ,họ chợt nhớ đến một người . Đó là một chiều lần ra bờ sông La Ngà  ngồi hóng gió, rồi  ghé nhà  một  em học sinh   có cây xoài  trĩu quả ngoài sân,  quả    bé  tí như  cau  rừng,  và chua thì … khỏi nói,họ xin về nấu canh. Ánh mắt hai  sĩ tử  bỗng dừng ở một tấm  bưu ảnh  hoa hồng  nho nhỏ dán ở một góc  nhà ,  bỗng hiện lên trong đầu họ góc  phòng của  người đã đi xa,cũng có một tấm bưu ảnh dán  nghiêng nghiêng  như thế .Anh ấy đã  say mê học tập , chuẩn bị thật chu đáo cho mỗi một đợt thi,chẳng hề  vì   chen chân vào đại học để mưu sinh, mà vì học để  khả năng chiến đấu có hiệu quả  hơn,đem lại lợi ích cho nhiều  người hơn.Phải “thắng “trong cuộc thi sinh tử này,không chỉ  vì cho  bản thân mình, mà còn  vì thắng để cho lý tưởng vì độc lập, tự do của anh Đa  nuýp xanh ngày nào thắng, để cho khát vọng Độc lập,Tự do,Hạnh phúc mãi vững bền.

 Dalat,mùa lễ Thương  Binh Liệt sĩ  27.7

                 Giang,Bé, Tre .

Saturday, July 25, 2026

ĐỂ NHỚ NHỮNG MÙA THI

 

   



Ba  bà lão chúng tôi, Giang,Bé, Thanh, từng có một thời là  các cô giáo  gõ  đầu bọn tuổi  mười một đến mười bốn,mười lăm. Có một  cửa ải đầu tiên  và gian nan( theo cách nhìn  của mọi  người   ngày ấy)  mà chúng tôi phải  vượt qua cho bằng được,đó là  kỳ thi tuyển vào trường  Cao  Đẳng  sư phạm,nơi chúng tôi  chọn ( mà vì ngày ấy   hệ thống trường này ở các tỉnh chưa  có ) tại  thành phố Hồ  Chí  Minh, đào tạo giáo viên  cấp  Hai  cho toàn các tỉnh miền Nam . Bà  Vân Thanh dù cùng tuổi  giấy tờ là   1957, nhưng do   từng tham gia lực lượng  Thanh niên  Xung phong  nên   vào  học sau chúng tôi một  hai khóa  gì đó,bà ấy   có kể mà tôi  không chịu lưu lại trong bộ  nhớ,  tự hào rằng mình thuộc diện “ cán bộ đi học” nên  kỳ thi  vào đây chỉ có hình thức “ hợp thức hóa”. Tôi thì, thôi cứ kể ra  vì dù sao  mọi chuyện đều là quá  khứ,  tôi  có người cha  từng là chiến sĩ  Điện Biên,là cán bộ  cấp cao của ngành nông  nghiệp, quen biết  nhiều,nên ông đã  tìm cách “ lo liệu”, và vì thế,kỳ thi cũng là một  kiểu…như bà Vân Thanh.Chỉ có bà Bé  là phải   gồng mình lên mà học bài,làm bài . May là  ngày  ấy     đất nước vừa thống nhất,trường cấp Hai mở ra khắp nơi, giáo viên thiếu  trầm  trọng, , nên hình như  ai  nộp đơn là  đỗ,thậm chí  Nhà nước còn tuyển tất tần tật những sinh viên từng học  đại học năm  thứ nhất,thứ hai   các trường tại  Saigon trước đây,ghi  danh vào  học,  và khi về  Huyện,tôi còn  biết có nhiều thầy cô từng là  giáo viên  tiểu học lâu năm cũng được  cử qua dạy trường  trung học  cơ sở, có  người còn  làm Hiệu trưởng,  Hiệu  phó  những  ngôi trường có hai cấp học này , đủ biết ngày ấy  ngành giáo dục cần  thầy cô giáo     cấp Hai đến chừng nào .

  Tôi  không  thể đeo đuổi  đến cùng  nghiệp bảng đen phấn trắng,  vì,có lẽ  Thượng  đế muốn thế,bà Vân Thanh cũng vậy,còn bà Bé   miệt mài lên  lớp,mà còn từ   buổi dạy bọn lau nhau lớp  Sáu,Bảy, sau nhiều năm, bà này nghiễm nhiên  là một cô  cấp Ba . Cũng phải qua một kỳ thi   tuyển gắt gao,  mà  Tre cùng đi thi thấm thía lắm,  thí sinh đầy mấy chục  gian  phòng mà cuối cùng  gom được ba  lớp,  trong đó có một số  thuộc đại học dự bị  chuyển qua,rồi  số  sinh viên từ  đại học Cần Thơ chuyển lên, riêng  lớp A của Bà Bé thì  một phần tư là lớp thuộc diện năm  xưa của bà Vân Thanh( hẳn nhiên họ cũng  phải  trải qua một kỳ thi  như mọi thí sinh  khác )Tre ấm ức :chị Bé đi thi, học bài có hai tháng hè,  mà  rồi còn  bị sốt rét hành hạ lên xuống,  mà chị  ta    tự tin lắm, rằng : tớ có rớt thì qua dự bị học thêm một năm,rồi trước   sau  gì tớ cũng về một  trường cấp ba nào đó ..  Vậy là bà này  còn bảnh  hơn bà Vân Thanh. Trường dự  bị  đại học  gọi là  Đại học Nguyễn Chí Thanh,( vì trường nằm ở    trên con đường mang tên vị tướng tài ba này )  ưu tiên cho ba  diện thứ  nhất  là     quí vị  con ông cháu cha mà học hành.. thiếu điểm . Họ có bố mẹ là  cán bộ cao cấp của Nhà nước,   diện thứ hai,  chính   là   cán bộ từng một thời  xông pha lên thác xuống ghềnh, đi thi với tâm lý  là “ sang dự bị học thêm một năm “ tất tần tật ngành nào cũng có .  Diện thứ ba là   dành cho những   thí sinh “gạo trên sàng “ :họ  thi đỗ hạng nhất mọi trường đại học,được tuyển đi học ở  Liên Xô và các nước Đông  Âu,về đây học một năm  ngoại  ngữ, tiếng nói của   đất nước họ sẽ đến học.Cho nên  hai  diện “ con ông cháu cha “  và  ‘ cán bộ “ có khi  còn tự hào: thì bọn tớ  cũng là diện dự bị để..du học.  Nhìn vào  mấy lớp  này là   biết thế nào, vì tôi có nhiều bạn bè, người thân ở đây lắm !

 Tôi nhớ khi  ngồi kể   lại  chuyện này,Bà Vân Thanh  ranh mãnh nhìn tôi :

- Sao  hồi thi vô đại học sư phạm ngoài Bắc, dạo vừa  hòa  bình, bà không nhờ  ông  bô ( cách  Thanh gọi  bố )  gửi  gắm, để phải khăn gói quả mướp vào tận Phương Nam này ?

 Thanh  vặn vẹo thế  bởi tôi từng khai :tôi   đã thi  vào đại học sư phạm, ngay năm 1975,mà  “đậu cành mềm”. Dạo ấy   hai miền Bắc Nam vừa thống nhất,bố tôi  được điều ngay vào Nam  công tác, như  rất nhiều cán bộ   miền Bắc ngày ấy.  Tôi thấy ông  bận rộn hơn  cả các  bác nông dân, vì  ông   bươn bả  hết mọi cánh đồng miền Tây,rồi lại xộc qua miền  Đông, cho nên dù  dẫn tôi theo ( vì tôi  vòi vĩnh,dù tôi đang trong   thời gian  ôn thi vào tháng  8.1975 ) ông cũng không có thời gian  ngó ngàng đến, chỉ dẫn tôi vào một khu cư xá  vắng tanh,vì người dân đi di tản cả,   dúi cho tôi  một ít tiền,gửi  gắm tôi cho chú  phóng viên nhà  báo  ở  gian kế bên, rồi  thế là  lao ra   chiếc xe Jeep bộ đội đang đón sẵn. May là ông còn có thời gian    để  nhớ  rằng mình còn có đứa con gái  đang ở  không xa chỗ mình công tác,nó  đang   chuẩn  bị thi  đại học,  thế nên  khi gần đến ngày thi,ông   nhờ  người  mua vé tàu cho tôi ra Hà Nội một mình.

 Tôi thở  dài  :

- Tại bố tớ   quá tin tưởng ở tớ..

 Rồi tôi cũng thật thà khai báo :

-Hồi vô Cao Đẳng ở Thành phố Hồ Chí Minh,nếu tớ muốn  bay qua bên Đại học  cũng được,nhưng  lúc này tớ khôn hồn  rồi ,biết mình  ra sao  để sau này   đi   đụng độ học trò còn biết đường liệu cơm gắp mắm.

 Tôi trọ học ở nhà chú Toàn,em  ruột bố tôi,một năm  để hoàn thành chương trình đào tạo cấp tốc của  trường Cao Đẳng  sư  phạm thành phố.  Chú  thím  Toàn có hai  người con trai  lớn  là một cặp song sinh cùng tuổi  với tôi,chọn khoa Hóa  trường  Đại học Sư Phạm. Họ cậy nhờ bố tôi  ,nói  theo cụm từ thuở ấy ,là “gửi gắm”. Từ dạo  về sống chung nhà với  bố,  mẹ Thu,người vợ sau của bố tôi,  và hai  cậu em trai con chung của họ, em cùng cha với tôi tại  Hà  Nội , tôi thấy bố tôi có  nhiều người  bạn  là  thầy  cô giáo bên  Bộ Giáo Dục,rồi là trường   Đại Học  Sư Phạm  tạt qua nhà chơi, ăn uống,  trà  đàm.   Hai   người  em sau  này, nhờ qua mối quan hệ của  bố mẹ   mà   nhẹ nhàng  vào học  những  ngôi trường đại học  họ chọn,tôi  biết  rõ vì khi tôi  rời  vùng  quê   ở  Đồng Nai  xa  xăm,quay ra Hà Nội,họ kín hở cho tôi  biết việc họ   học và thi  ra sao, rồi  trách tôi  sao  không năn nỉ bố mẹ .. Họ thì thầm,   đi   Liên Xô   cũng … Tôi  nhớ có  nhiều đêm, nhà chú thím Toàn tiếp những  người  khách   mà tôi từng   bê nước ,dọn cơm mời ở nhà bố mẹ mình, rồi  những món quà rất có giá trị  thím  sai tôi đóng  gói cẩn thận để “ kỉnh các thầy  Hà Nội”.Từ “ kỉnh “ cũng là từ lần đầu tiên tôi  nghe . Những ngày  miền  Nam vừa được giải phóng,tôi theo bố vào,khi  trọ bên khu  cư xá    cũ đối diện với  nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi,khi   qua nhà chú thím,thường xuyên tôi  nghe tiếng thím rầy la hai anh con trai lớn, ( chú  đi học cải tạo ngoài miền Trung ), có lẽ việc học  tập của họ ở trường,trước đây họ học  trường Pháp,nay chuyển qua hệ trường Việt,họ lại  cùng  có hai cô  bồ, tức là   người yêu,theo cách  gọi của vùng này,nên có phần chểnh mảng.  Tôi hiểu thím lo lắng cho tương lai của họ.  Thím rất bận, dù con  nhỏ mới sinh cách đó một năm,nhưng thím vẫn nhiệt tình tham gia công tác Hội Phụ nữ  Phường,mục đích là  để có thể   xin  ân giảm cho chú. Hai  anh con trai cũng khổ tâm lắm.Họ bảo : Má la một câu mà nó nằm miết trong đầu cả tháng trời  luôn ! Ngồi  học mà  óc  cứ nóng bừng lên.  Thế rồi sáng sáng ba anh em cùng trực chỉ về hướng đường An  Dương Vương,tôi tạt qua bên trường Cao Đẳng, còn họ thì ung dung   rẽ vào trường ĐạiHọc Sư Phạm. Sau này khi họ qua Mỹ,có  dịp gặp lại,tôi biết họ  vẫn đeo  đuổi  ngành chuyên môn họ từng  chọn học là  Hóa,  mặc dù không thuộc về  giảng dạy.Kể  ra họ cũng có  năng khiếu và đam mê, nhưng chú thím vẫn “ chạy chọt”vì có như thế mới yên tâm.

 Tôi  kể thêm một chút về cuộc thi  làm cô giáo của   hai nàng Bé Tre  vào một mùa hè năm  1981. Tre từ lâu chẳng  nuôi ước mơ làm cô giáo, bởi từ  bao giờ  nó  đã  biết  với  ngoại hình hơi khác  người,liệt cánh tay bên phải,thì  cũng như tôi,liệu cơm mà gắp mắm,rồi lại có  nhiều người  khuyến khích, nó  chọn ngành làm thầy kiện,ngành Luật. Nhưng đùng một cái  nàng ta  ôm bụng trống to  chang bang.  Biết tin chị Bé dưới  Đồng Nai được  nhà nước  cử đi học tiếp về dạy  khối cao hơn,  hai má Mười -Tư  dỗ dành Tre “xuống  La Ngà  ôn  bài   với chị, rồi  cùng đi thi ,trời thương  cho  đậu thì đi học xa nhà có chị có em”. Hai má  vốn là  “ người lớn” nên  nhìn thấy đường xa, rằng  ra làm cô giáo thì  buổi  lên  trường,buổi ở nhà  trông con, hè được nghỉ mấy tháng,chứ mà làm   thầy kiện,   đã  làm việc ban ngày,có khi  còn phải làm đêm .  Nàng Tre  xưa nay vốn  bướng  nhưng bây giờ nghe cũng thuận tai,bèn làm theo răm rắp.Nhưng khi  gặp  bà chị,bà này  khoe khoang  thì  Tre thấy cụt hứng.Bả thi mà không mong đậu,vì có mấy tháng ôn,tư liệu thì học trò cũ mang đến cho   bộ  ba cuốn Văn, Sử,Địa,bắt  đầu  học từ trang số   1,  mà Tre đã  nhào  nuốt  đến nhão từ  khi nộp hồ sơ, rồi lại suốt  ngày hết sốt lại rét,nên thản nhiên : tớ làm sao  đua với  tụi phổ thông lên như bọn mày,  có rớt cũng qua dự bị ,thôi cố thêm một năm,dù sao về phố lớn có điện,có nước máy, muốn đi coi xi nê,coi ca nhạc  cũng tiện,lại đỡ phải ăn cơm độn,đau ốm thuốc thang dễ kiếm hơn ..  Và bà ta đắc thắng . Hồi  nhỏ, vô được  trường  công,  bọn tớ học một  lèo đến  lớp  Mười Hai.  Ngỡ thi  IBM  nên học ngày học đêm, nào  ngờ  “ sơn hà thay đổi “ tớ thi tốt  nghiệp cứ  như  đi kiểm tra học   kỳ. Thi vào Cao  Đẳng cũng  nhẹ nhàng . Giờ thi đại học chuyến này thì. .. Mong  sao vô đại học, tớ  sẽ  cố, để ra trường tớ  được chọn   chốn  hồi  hương .   Thế là  Tre bỗng thấy mình  ..nghĩ  lùi.Ừ,mình đang nghén,suốt  ngày ôm  sách mà bụng cứ ọc ạch như kẻ bị   đau dạ dày,  mà rồi đậu thì  qua học kỳ hai là  sẽ đi nằm ổ. Đã thế,  vừa học vừa  trông con,ai   bế nó cho mình   thanh thản nơi giảng đường . Thôi chi bằng ..  sang năm thi lại.Giờ về   nhà quay đi  quay  lại là đến ngày   em bé nó đòi ra, mình cứ ở nhà, gạo  mắm có hai má lo. Ở  nhà một năm,ôn  luyện kỹ, rồi khi chị Bé từ dự bị qua,mình cũng đường hoàng vào   ngôi trường đúng nghĩa “ Đại học Sư  phạm” .  Tre  tính toán như thế , bởi vì là …Từ mấy năm nay, khi Tre lên học cấp ba, hai cô Mười Tư không còn là các chị   tạp vụ ở các cơ quan hành  chính,mà  chuyển  sang làm  cấp dưỡng cho các bếp ăn tập thể . Họ vẫn có hai  người hai  chiếc xe đạp,mọi khi  ra  ngõ  thì ai đi đường nấy,nhưng bây giờ  được gom về một  nơi,không xa nhà bao nhiêu.  Sáng  rời nhà  rất  sớm ,  tối   về muộn,  nhưng  trên yên   sau của xe mỗi má đều ràng nịt  theo một chiếc thùng  nhựa hai mươi lít,đậy điệm cẩn thận,mọi khi thứ thùng này ở vườn nhà chị Bé, các chú làm công chiết thuốc  Diazinon,thuốc bột DDT   rồi trộn vào  các bình phun, để diệt sâu bọ các thứ đến  cắn phá rau hoa  mùa màng,bây giờ thì  đầy   lủm “nước cơm “thứ nước chắt ra sau khi vo  gạo, rửa  bát, dùng để  đun với cám cho heo ăn rất  tốt, thay vì phải mua thêm cám, bánh dầu  như mọi khi hai má chăm  mấy chú heo sau nhà,   và mỗi tháng thì tiêu chuẩn tem phiếu, mua gạo  thit  mắm muối..các thứ  thì  “ vẫn nguyên vẹn”,  bởi  “ xé mắm thì mút tay “ đó là  qui luật.

 Nhưng rồi có một yếu tố nào đó khiến hai nàng này bỗng  thấy cần phải “vùng lên” nghĩ tiến chứ không  tính lùi nữa . Ta hãy chờ .

Bởi   Hai bà  Bé  và  Tre còn   than thở  nỗi khổ  thi cử từ tuổi lên mười , đúng  ra là mười một.Học hết lớp  Năm ,muốn lên lớp  Sáu, để    có thể  tìm một chỗ ngồi trong  ngôi trường công lập tỉnh, họ  phải trải qua  một kỳ thi  “ gian khổ   nhất trong đời” . Bà Bé  hồi tưởng :

-  Trường tớ có hai  lớp,ngót  nghét chín chục đứa,mà  thi đậu  vô  hai  trường công ( trường nam  và nữ học riêng ) thì  tổng cộng chỉ đúng ..mười đứa !

Tre đồng tình. Dù ở cùng thôn,nhưng nhà Tre ở  trên đồi,từ đó băng qua  ngôi trường mang danh “ phố “ tiện hơn qua trường làng, vì  từ cổng nhà có con đường làng  rải đá, đi  một quãng là bon bon đường nhựa,mà  đường làng hết mùa sình kéo dài  cả  tám tháng,ba tháng nắng lại bụi,  đường còn có mấy con suối, cầu gỗ chênh vênh,  trẻ con  có mấy đứa bị ngã,  và   không  cứu được,  nên  anh Đa nuýp xanh hồi ấy có  “ quen biết”,vả lại do  tình trạng sức lực ( Tre bị liệt tay phải ) nên  hai má Mười - Tư cũng  đồng  ý cho Tre xin học ở  đây,trường Võ Tánh, nay là  Nguyễn Trãi , ước  nguyện ban đầu của hai má là “ ở đó  học dễ thi vô trường công hơn”. Bà Bé  kể,ngày   con bé con  biết sẽ đi thi ở cơ sở này, thay vì  kéo ra trường nữ  như các chị trong xóm, có   lẽ  vì thí sinh quá đông  nên họ  mở thêm  mấy  phòng ở   đây, nàng ta lo lắm ,vì thấy lạ nước lạ cái . Nhiều   năm rồi  cứ  nghe “ trường phố “ thì  nghĩ là có lầu cao, phòng ốc  rộng  rinh ,   học trò  mỗi đứa một bàn một ghế,   một hộc tủ, cứ  mỗi một môn  học lại kéo nhau qua một gian nhà khác .. như  mấy lần coi trong  xi nê người ta chiếu cảnh học trò tận bên Tây .   Buổi chiều trước ngày thi,bà này đứng ngẩn ngơ ở  hiên  nhà   nhìn qua ngọn đồi của  ngôi trường phố ấy,có chút lo lắng .May  sao  anh Đa nuýp  xanh   đọc được  nỗi   phiền toái trong đầu nhỏ kia. Mấy chú cháu kéo nhau đi  ..coi,  ( dù là  lén   băng rào  đi lẻn phía sau )  nhưng cô  nàng thấy tự tin ngay. Ồ thì  cũng như  lớp  học  trường làng của mình.   Bốn năm dãy bàn dài mỗi bên,một lối đi ở  giữa,bảng quay  có hai mặt ,có thể  chui ra sau  khi    cô giáo sai lên viết giờ chính tả ( để tụi nó ngồi  dưới lớp  không  cóp bi ) ,   đến  khi cô giáo chấm điểm thì quay lại, cả  lớp theo lời cô giáo sửa mà   chấm chéo cho nhau;  bàn cũng có  năm lỗ,đựng lọ mực chế  sẵn cho năm đứa,có điều  người ta cất cái  cô đê ( tức là cái lọ  sứ đựng mực ) đi  rồi,chỉ còn mấy cái lỗ trống hoác,anh Đa  nuýp xanh  bảo : để  đề  phòng  người ta  nhét bài làm sẵn  vô đó ! Chà,thi cử có hàng trăm  người canh mà  cũng tính chuyện cóp bi nữa,gan thiệt ! Bàn giáo viên cũng cũ  kỹ, có  khi còn   sờn   tróc hơn bàn thầy cô trường mình nữa chứ,  tủ kính nho  nhỏ  cũng cỡ dạng tủ lớp bên trường mình,là nơi    cô thầy cất  sổ sách,cả vở học trò  thu về chấm mà chưa kịp trả .Chỉ khác là  trần nhà có gắn cái ống   trắng dài dài,bóng đèn điện , anh  Đa nuýp  Xanh giải thích . Ồ,có  gì khác trường làng đâu. Con bé có chút tự tin . Hồi ấy biến cố Mậu Thân vừa  xảy ra, nên ngày thi bị  dời, cả việc học của anh “dẫn đường”kia cũng có chút  ít   xáo  trộn. Anh dặn :

-Nay ổn rồi,giờ mình biết chỗ thi ra sao, thấy yên tâm hơn phải không ? Mày  đã học  kỹ như cháo mọi thứ,làm tính  đố  với  tập làm văn mày cũng ngon rồi,thì cứ  yên tâm về nhà,tối đi  ngủ sớm,sáng dậy ăn  no rồi ra đây thi,có gì đâu.

Ngày Tre đi thi,bà chị Bé cũng tìm cách dẫn cô em  ra trường nữ (  nay họ không mượn thêm trường như hồi  nào )  để ..coi chỗ thi cho biết .Nhưng ông cai không cho  vô.Bà chị cũng động viên cô em  y chang như thế .Hẳn nhiên  mô tả sơ  ngôi trường mà đứng ngoài,họ chỉ thấy ngói  đỏ và  vô số  ô kính lấp loáng,nhấp  nhô,  dễ thương nhất là   vòm cổng   có hình một chiếc   ruy băng màu xanh  da trời kết nơ  rất dỏm dáng.

- Có lầu,cầu thang đi lên mỗi đầu hồi nhà, hồi tớ học đệ thất và  lục thì  dưới,  sang đệ ngũ mới  lên lầu,dãy bên tay phải từ cổng  vô nè, phía sau  hàng rào là đường dẫn  vô khu nhà dân.

 Qua đệ tứ ( lớp chín) chuyển học buổi sáng, tụi tớ qua  dãy bên trái, cũng học lầu.Bên này phía sau có vườn cây cổ thụ, mùa  tết  mai anh đào nở rộ, đẹp lắm .

- Chị thích học ở  trệt hay lầu ?

- Ở   đâu cũng thích .Học bên dưới  xếp hàng  ra vô lớp,  khi tan trường cũng nhanh hơn,nhưng học trên lầu ngồi ngắm  hoa mai nở, hay   nghe chim hót trên những rặng  thông,cũng  thích  .

 Bỗng Tre   lên tiếng đầy bất  ngờ :

- Bạn em hồi học chung với em dưới  Saigon  từ hồi mẫu giáo, vừa lên   nghỉ mát, nó chê trường  nữ mà cây cối ít  quá,  vì  nó sẽ thi vào một trường nữ dưới vùng Lục Tỉnh,  nó khoe   trường nó  sẽ thi vào có  cây cố cổ thụ xanh rì,đứng ngoài  chẳng thấy mái trường đâu cả .

 Kiểu nói chuyện này khiến bà chị cụt hứng.Nhưng :

- À thì.. Rồi cô chị reo lên :  khi  Tre vô đây, sẽ   ra  sân bóng chuyền ,ở đó có cả rừng thông,  ngó qua viện Giáo Hoàng của các  ông frere ,có  hàng rào là  hai hàng thông  cao  và dày . Ngó qua Đồi Cù thì khỏi chê,bạt ngàn đồi thông  xanh.

 Cũng như bà chị, Tre có bảy năm học  tập, trưởng thành ở đây. Khi  ra làm cô  giáo đứng lớp,  rồi làm cán  bộ quản lý, khâu    giảng bài thì mỗi tuần chỉ  dăm ba tiết,nhưng việc “ dỗ “học trò ( vì nghề giáo là nghề vừa dạy, vừa dỗ bọn trẻ )ngốn hết thời gian,Tre mới giật mình nhận ra, tất cả  những lời nói , cử chỉ, thái độ, cảm  xúc  dồn cho công việc  và  đám học trò,đều là bản sao của mười hai năm đèn sách,từ ngôi trường  “ phố  nhưng vẫn  đầy chất làng “ và   nơi chỉ rặt học trò con gái. Tre  không được sinh ra từ đây,trong những con người gắn bó có phân nửa giòng máu đỏ da  vàng, nhưng mà trong   cô  gái trẻ này  vẫn da diết một tình yêu  thân thương,bởi “ ngôi trường là một góc quê hương”.  Tình yêu ấy cô   chia sớt cho một góc miền   phương Nam xa xôi,sông nước   kinh rạch chằng chịt, những cánh đồng bát ngát  chạy đến tận chân trời .Đây là  quê hương của  mọi  người trong đại gia đình  Tre,hai bà má,một đứa con gái,ba đứa cháu,và những đứa chắt..

 Những ngày ấy, anh Đa nuýp xanh cũng là học trò,vì ôm mộng   làm  sinh  viên của  khoa Quản trị kinh  doanh  trên đại  học để mai kia làm  nghề đếm bạc ở nhà băng,nên anh này cũng cố  dùi mài kinh sử, tất  nhiên cũng  nhọc nhằn biết bao trước những kỳ thi.

- Ngoài  quê, tao cũng thi vô đệ thất trường công như tụi bây chứ bộ . Giờ tao lo thi  để lấy cái bằng  trung học đệ nhất cấp, để  lỡ   nếu tổng  động  viên bị kêu đi quân dịch, tao được hưởng lương trung sĩ !

 Ông anh này  già  đanh rồi ,bởi vì    ngoài quê chiến tranh bom đạn ùng oàng,đậu đệ thất,mà rồi phải bỏ dở dang  chuyện học  mấy  năm,  giấy tờ cháy  rụi ,vô đây  học lại  lớp  đệ thất ( lớp Sáu ) mà tuổi lẽ ra  đi thi.. lớp  đệ tứ ( lớp Chín ). lấy  bằng trung học đệ nhất cấp . Phải nói là ổng thông minh,vì  đâu   được   ngồi yên trong nhà mà học như hai con bé kia,mà  còn ra vườn,rồi ổng còn nhiều  việc khác nữa, tức là “ người lớn họ sai,thì mình phải làm  chứ”. Thi   lấy bằng trung học   anh Đa nuýp xanh đỗ hạng bình( có  ba  dạng :bình, bình thứ  và thứ,tương đương như  hạng ABC ngày nay )nên ngoài việc có bằng,anh ấy còn được tuyển thẳng vào học trường công,tức là không còn lo học phí hàng tháng nữa. Hồi đó bọn học sinh  tư thục  có phong trào “học nhảy”,cũng do thời thế mà ra . Người ta muốn nhanh chóng có những tấm bằng để   nếu đi lính hay  ra làm  công chức thì  đỡ mất thời gian,vì tuổi đã “ quá đát”. Học  để thi bằng trung học, thay vì  miệt mài  đèn sách  bốn năm,người ta bỏ đi một năm,lớp Tám hoặc  Chín. Rồi  mong giật mảnh bằng tú tài một ( hết lớp Mười một ) thì  bỏ hẳn  việc  ngồi mỏi mòn trên ghế lớp Mười . Nhiều  người bạn của anh Đa nuýp xanh  đã làm thế. Riêng anh này thì vẫn bình tĩnh : trước sau  gì  tao cũng  sẽ vô Đại học ,vì anh bảo: tao được miễn dịch.Gia đình anh có  một anh trai là tử  sĩ, một anh là thương phế binh, họ chưa có vợ con gì cả,mà cha mẹ anh đều  ở tuổi  sáu mươi, lại   mỗi  anh  là  con  trai  ,nên anh cứ tà tà học hành,đặng còn cưới vợ,sinh con,có  cháu mà nối dõi tông đường . Chính sách của Chính phủ  vốn nhân đạo như thế,cũng là  niềm hạnh phúc của anh này . Có ai biết đâu  lý lịch này là .. đi mượn . Vì  bố đẻ anh là một ông cán bộ Việt Minh thứ thiệt,đã  hy sinh từ khi  anh còn bé, các anh đều  ở  ngoài Bắc, có mấy chị làm y  tá,làm thư ký đánh máy cho  hiệu  buôn lớn ở trong Chợ Lớn.Đó là lý do anh thường về thăm để nhân tiện xin “ chi viện”Nhưng  việc  “ đi Sài gòn thăm hai chị “ cũng là cái cớ,mà mãi về sau, hai nhỏ Bé Tre mới biết.

Đến ngày anh Đa  nuýp   xanh thi  lấy bằng  tú tài một. Có  thêm  tấm bằng này cũng bảnh lắm, dù chưa thể thi hay ghi  danh vào một trường đại học nào đó,nhưng nếu đi lính thì lĩnh lương sĩ quan,từ chuẩn úy trở lên,đi làm thì có thể  thi vào  trường sư phạm tiểu học, ra làm công chức lương  cũng cao. Ngày đó, ông anh rể  ( chồng chị cả ) của Bà Bé cũng  thi  để giật mảnh bằng này. Anh  từng học đến lớp Mười một thì bỏ dở ,phần vì đi lính,phần vì cưới vợ theo lệnh hai đấng sinh thành.      Đi quân dịch,  ông bố chạy cho  cái chức “ lính kiểng”, lính làm việc văn phòng,không phải ra  trận,ăn mãi lương  binh nhì , gọi  là    đơ giem  cà cuống ,( cao nhất là đại  tướng )  mãi chẳng thấy  mới lên chức binh nhất ,trong khi bạn cùng lứa,có cái bằng tú tài một, là một phát  đi Thủ Đức,lương  chuẩn úy, hạng sĩ quan,còn mình mãi là hạ sĩ quan . Đơn vị  anh rể Bà  Bé   đóng ở ngay Đại đội hành chính,  từ là khu vực cuối Chợ Mới  Dalat,nằm ở góc đường Phan Bội Châu trong thành phố. Một ông thì  ngày đêm học  hành phờ phạc,ông kia cứ ung dung  phóng xe  gắn  đi về,  mà mục đích thì không khác nhau:  phải có tấm bằng tú tài một, để rồi  có tú tài hai.Ông thì muốn  học lên  cao, ông thì mơ đến món lương tăng .  Đến buổi thi,  ông  anh Đa nuýp  xanh   đến  hội đồng thi sớm  lắm,  và quay  lại  nhà ,kẻ mặt mũi đầy lo  lắng, ông  kia thì   thong thả  ung  dung  khi  đi,lúc về  hớn hở cứ như là “ đề trúng tủ “ vậy.Ngày ấy thí sinh thi tất tần tật mọi môn, học   bao   nhiêu  thì  thi  bấy  nhiêu,còn có môn thi ( hai  bà  Bé Tre quên cách gọi  gọi rồi ) đó là thi Thể dục   để được cộng thêm điểm  ( ai muốn cộng thì thi,không bắt  buộc.Thí sinh miệt vườn  không có thời gian   dùi mài kinh sử,nhưng khỏe mạnh,đều  đăng ký ),   thí  dụ  như  mười ,chín  thì  cộng hai,mà  bảy   tám  thì  cộng một. Thí sinh  sẽ chọn các môn như  chạy, nhảy  xa, nhảy cao,leo  dây ( tức là  đu lấy một sợi dây  dài,treo từ trên xà,    kẻ leo nhanh  và cao thì điểm nhiều .) Bọn em   nhỏ   nhớ ông anh Đa  núp xanh chọn môn này,vì   anh ấy kể,nếu chạy  nhảy thì thua bọn kia,họ  ở tuổi mười bảy  khi thi tú tài một,anh  này hăm mấy rồi,do học lùi mà ! Anh  thí sinh này kể :  mỗi  dây họ cột  sẵn một cái  gút to, thòng  đu  đưa từ  tít  trên cao,  ngó  đã  thấy  chóng  mặt, mà  tao phải   “ bước “ bằng cách  kẹp gút mà đu lên. Khi thi thì quên trời đất,về đến nhà mới thấy  hai ngón chân cái sưng chù vù  như bị ong đốt,phải  nhón nhén  mất  đi   bằng   … gót  chân mấy ngày trời !   Trước đó,từ  khi còn  cách  ngày thi  cả năm, sau sân nhà  Tre có một cây thông già to,cành lá sà xuống mái tôn,anh đã  tìm cách cột chắc một sợi dây thừng,bện từ rất nhiều sợi bao bố to và chắc,đường  kính bằng cỡ bắp tay, dài  cả chục thước,  rồi  đứng lên trên mái tôn,   tập tành thường  xuyên,cũng không  ít lần  té “đo” mái tôn nhiều chuyến ! Mái nhà Tre  chỉ hơi dốc,kiểu nhà mái bằng,hay  gọi theo buổi ấy,nhà kiểu Mỹ,lợp  bằng tôn  phi-bro xi măng nên dày và chắc,có  té đo cũng không sao,mệt thì nằm dài đọc sách,học bài . Những ngày nàng Tre ôm bụng trống,cũng leo lên đây  ngồi,cây thông bị đốn mấy cành theo năm tháng, nhưng vẫn tỏa bóng.Hồi nào anh  Đa  nuýp Xanh  đặt bao hy vọng vào đứa em  này, mà giờ mình thì … Tre thấy lòng ngổn ngang trăm  mối .

  Tre  nhớ    ngày treo bảng năm nào,sau  mấy ngày ròng thi thố  !.Chỉ có một  anh  đậu,mà đậu  rất cao.Còn anh kia  !  Anh  rể  kể :  tao mặc cái áo  field- jacket   rộng thùng thình,  ( thứ áo lính   dài phủ mông,có thắt lưng ở eo, hai vạt áo có thể  nhét vào đó cả một ..bầy gà ) và .. phao, tức là  những trang sách  bài tập giải sẵn,   tháo rời từng trang ,đánh số, nhớ   kỹ  là  mục nào hợp với đề thì  rút ra,kê dưới  đít,rồi cứ lật  từng  trang  chép từ từ , chứ  mình  thân lính, đầu óc đâu mà  học nữa ! Hai  đứa em Bé,Tre  lo lắng,  chứ giám thị  không “ bắt” à ? Thì cứ tưởng họ không thấy .Mà toàn các cô giáo trẻ măng,ai   cũng lạ hoắc lạ  huơ .Thì  họ đi coi thi,mai  mốt chấm thi, đều đi bằng máy bay từ tỉnh khác đến,  chứ đâu phải   người ở đây  !Họ đứng xớ  rớ đằng xa,  vẻ mặt hiền từ .Ối trời,có  ngờ đâu.Họ ngại va chạm lính tráng. Ngày ấy cả  những viên cảnh sát áo trắng,có súng lục đeo hông,cưỡi  những chiếc xe gắn máy phân  khối lớn,    hiệu   Harley   Davidson  chuyên dụng,chỉ  rồ  ga  một cái là   nó  phóng bay cả chục cây số,  súng  giơ lên một cái, là  kẻ  kia đưa tay  ra hàng rồi,   ai ai cũng nể, chỉ   giới  lính tráng là  không. Họ chỉ  dè chừng quân cảnh mà thôi ! Các  cô  giám thị ở xa đến,  cố  giữ vẻ    tôn trọng “các anh”, nhưng mà  tên các anh, số  báo danh thế nào,họ  đánh dấu cả rồi.Người ta tổ chức một kỳ thi tốn kém ,nghiêm túc như thế,bài bản như thế,mục đích để   chọn những thí sinh dù  ra đời sớm (  thi lấy bằng tú tài một ) hay   học tiếp lên đại học chuyên ngành,( thi  bằng tú tài hai ) có đầy đủ năng lực để  hoàn thành công việc học  được giao sau  này,chứ đâu phải để lên lon,lên lương như các  vị !

                             Giang  và Bé , Tre

                          ( còn nữa ) 


Friday, May 1, 2026

NGÀY HOÀ BÌNH

 Kính  dâng   hương hồn   Chú  Võ Hoa  và các  liệt  sĩ  ở   Côn  Đảo.

 Xin chân thành cám ơn  các  tác  giả     chụp  và lưu giữ   những  tấm ảnh  đẹp  về   Dalat trước   1975, được  đăng  trên Internet.



 Đối với   những  người dân  Dalat  buổi ấy,ngày  Ba tháng Tư năm 1975  là  Ngày Hoà  Bình .

 Dalat  những năm trước  bảy lăm  là thị  trấn   của lính tráng. Mỗi chủ nhật  bóng dáng  những chàng sinh viên sĩ quan  của hai trường  quân sự và tâm  lý  chiến    lớn nhất miền Nam   lại xuất hiện khắp đường phố.Họ bảnh bao trong những  bộ lễ phục trang trọng màu cà phê sữa mùa   nắng  khô  và  màu dạ  nâu  mùa  đông  lạnh,hay thu  mưa dầm,mũ kê pi, áo   may  kiểu veston,cầu vai tua đỏ  và đen, cứ nhìn  để phân biệt  đâu là các  vị “   tránh vợ bé quyết  giữ vợ nhà” ( Trường Võ bị  quốc gia  Việt Nam) và “ cho tôi chút tình “ ( Trường  Chiến tranh chính trị),nhưng vào sau  buổi  trưa  ngày   23 tháng Tư năm ấy, hai má  dẫn tôi đi sắm  một đôi xăng  đan  mới,  cũng là  dịp  đi  tậu vàng để dành, thì  câu nói mà  mọi  người thường bảo,  “phố Dalat  mỗi chủ nhật  cứ   đưa ống kính lên thể nào cũng lọt vào  bóng một   chàng  sinh  viên sĩ quan,” thì nay bỗng  dường như  ngược lại.. . Ba  người  hớn hở   vào   Chợ  Mới,khu chợ lầu, mua    giày, sau đó leo lên  Chợ Trên  qua bậc tam cấp khá cao ở  bên hông nhà hàng La  Tulip,  cạnh  khách sạn Mộng đẹp,  trực chỉ   khu  khu phố có nhiều tiệm vàng,- đường Thành Thái




( con đường  dịp  ngày đầu năm tôi mới đến  tới nay vẫn  gợi  cho tôi nhiều cảm xúc  ,  số là  mồng một   tôi lỡ quên chiếc nón mới  tại bảo sanh viện Phan Lạc Giảng,mé  Hàm Nghi, nay là  đường  Nguyễn Văn Trỗi, mà cả hai đứa, tôi và chị Bé  chạy như ma đuổi, chạy từ rạp  xi nê  Ngọc Lan cuối đường  cho đến    giáp đầu Hàm  Nghi,để  tìm nón ) giờ  già lão, bước bộ qua thấy sao mà  xa, hồi đó chân cẳng con nít chạy thiệt là  khoẻ , để  sắm một chỉ vàng,  kết quả của nhiều tháng ngày làm lụng  vất vả của hai má. Khi trở về,đi lên con dốc   trước rạp  Hoà  Bình,  đường   Lê  Đại Hành  ngày nay nhìn xuống khu nhà kính mé cổng chợ, nay là  đầu đường vào chợ, từ sau  khách sạn Mộng Đẹp,   có dạo tên là  Mô- đéc,  nhưng chính phủ thấy  có chút hướng ngoại nên bắt đổi lại-  Chú Đa ( tên chú Võ Hoa ngày ấy )


 có  một cảnh  chụp trước  vũ  trường  Queen Bee ở  Saigon,  rồi lại một cảnh cũng đứng y chang chỗ cũ, mà bảng đã đổi ra là  Quên Đi. Tôi  nhìn hai ảnh, thắc mắc, thì chú bảo :  đổi cho ra cách kêu của  người Việt mình mà - nhìn qua bên kia đường,


  mọi khi  giờ xế chiều luôn có mấy chiếc  GMC  bít bùng đón những chàng sinh viên  tập trung về lại quân trường sau một  ngày bát phố,


thì  bốn bề chỉ có   khoảng không  tĩnh lặng, xa  xa là làn nước  Hồ Xuân Hương lăn tăn gợn sóng  . Chỉ có những đám cỏ vàng cắt sát gốc lơ phơ trong  gió làn gió lành lạnh  của chiều phố núi.

Má Mười  buột mồm:

- Ủa, bữa nay có phải chủ nhật không, mà thấy chỗ đó trống trơn .

 Má Tư  cũng lặng lẽ nhìn,  thái độ của má cũng có vẻ đồng tình. Sau đó ba má con  tìm  đến bến xe Lam  ở  đầu đường Hàm Nghi, là những hành khách cuối của chuyến xe chiều .

 Không ngờ đó là  những hình ảnh báo hiệu một thành phố yên tĩnh chờ  giông bão. Bởi từ sau đó,  lớp lớp cư dân phố thị êm đềm này, có  rất nhiều đứa là bạn học của tôi,  bố mẹ chúng là chủ nhân những  hiệu buôn , sạp hàng,hoặc công chức,nhân viên các   trường quân sự, ùn ùn  thuê xe chạy  đi “ lánh nạn”, rồi cao điểm, ngày  cuối tháng ba, đầu tháng  tư năm ấy,  hai trường  đào tạo sĩ quan  lớn cũng rút quân  về Saigon. Họ  đi theo đường  xuống  thị trấn  D'ran  thay vì  quốc lộ  20,náo loạn  cư dân  vùng Trại Mát, Cầu Đất ngày ấy, để ra Phan Rang,Phan Thiết,rồi mới  vòng  đến Long Thành , gần Saigon.

Và ngày  Ba tháng Tư,bóng dáng  những chiếc áo xanh màu cỏ,chiếc mũ cối,chiếc  súng AK đeo vai, đôi dép  râu.. xuất hiện.

  Ngôi nhà tôi trọ  ngày ấy  nằm    đối diện chênh chếch với  trụ sở ấp,  trên hai vạt đồi  , ở giữa là con đường làng  rải đá mấp mô, nay có tên  hẳn hoi, đường Trần Khánh Dư. Cả hai vạt đồi lớn,mà chỉ có  hai ngôi nhà. Trụ sở,gọi là thế, nhưng nhìn thoáng thì cũng không lớn hơn  ngôi nhà mấy má con chúng tôi được Chú   Hoa mai mối cho ở,  kiểu nhà mái bằng,mà ngày ấy  gọi là “nhà kiểu Mỹ ”, ngôi nhà  chỉ bằng  một  lớp  học,  hiên   chỉ là một  ô vuông,  xây cao lên  ngay cửa lớn,có  chống chữ   V  giữ tấm  mái xe nắng, bởi vì  người nông dân ngày ấy  chê vùng đồi xa  nguồn nước, đất khô cằn, không canh tác thứ  gì,có  những vạt cỏ lớn,  đến độ  một ông cụ mãi bên ấp kế bên, khu Đa Thiện, cứ hàng ngày xua cả đàn dê hàng trăm con  đến   chăn dắt,   tôi thường ra đây nhặt phân dê  về   ủ với phân  heo nhà mình ,lấy phân trồng  rau hoa quanh nhà,  và ông cụ đó chết danh với tên “ Ông già Dê”,tức là ông cụ chăn dê,chứ ông  đã ngoài  sáu mươi, goá vợ, có  các con đều ở  riêng, và rất  hiền lành . Vì  nhà  gần nơi công quyền,nên khi chính quyền  cách mạng về, gọi là Uỷ ban quân  quản,thì  bỗng có nhiều  người tìm đến nhà tôi.Trụ sở   ấp    chỉ dựng lên để  nơi  người dân  đến  nhận tiền  vay  quĩ Nông Tín,hay  tập trung bọn trẻ con đi  chích ngừa  dịch tả,dịch

   

dịch hạch   hay trồng đậu ngừa  bị rỗ (   gọi là  “ trồng đậu” vì tôi  nhớ, cứ  vạch tay áo lên, viên y  sĩ  sẽ  cầm một cái ngòi giống y ngòi viết mực,có hình nhòn nhọn như lá tre, gọi là  ngòi lá  tre, chấm  vào một lọ  thuốc, rồi  vạch lên da  sát vai  ba  vạch. Về nhà  thoạt nghe đau,rồi ngứa, khi  lớp da  bỗng  bung mủ,có đứa thì sưng, rồi  sau đó  để lại một vết sẹo  nom  chẳng khác gì  hạt đậu ngự, nên gọi “ trồng đậu” là thế -tức là   vết  trồng thành công, đứa bé không bị mắc chứng đậu mùa,có khi mặt đầy rỗ chằng chịt, mà rất nhiều  người từng bị  )  thế thôi,  vì  vùng ấp Nghệ Tĩnh  nhà tôi  sống ngày ấy chỉ có   tám chục hộ  dân, hồi ấy gọi là “ gia đình “, nếu cứ tính  trung bình mỗi hộ   bảy nhân khẩu, vì  nhà nào cũng  đông con,thì  cư dân chỉ   trên dưới  năm trăm, nên các hoạt  động khác,  như  đi  bầu cử, hoặc  cấp trên gặp dân,thì kéo nhau lên “khu phố’  nay nằm ở Uỷ ban Phường Tám,và chị Bé bảo,bây giờ là  Trụ Sở của Mặt trận Phường Lâm   Viên, tỉnh Lâm Đồng

 Trụ sở là một  ngôi nhà  dường như trống trơn. Người ta  mượn ở nhà tôi  chổi,khăn lau  cho sạch bụi, rồi  cả ly tách ,ấm nước,  rồi   nhờ hai má và cả tôi đi  khiêng bàn ghế từ nơi khác về.. Nhưng  gian nhà  nhỏ bỗng chật chội khi  những món đồ đạc mà cư dân trong ấp  “ bốc vác”từ những  ngôi nhà trên khu phố  giàu đường Phù Đổng Thiên Vương  được thu hồi, tập trung về đây, bàn ghế  giường tủ,  xe đạp, sách báo… có cả  mấy chục  chú heo con từ trại chăn nuôi của một viên trưởng ty cảnh sát, đối diện ngay với   tháp  chuông viện Đại học, cách nhau   đường Phú  Đổng,  mà  người dân buộc đem trả,cũng gửi   vô  gian chuồng bé tẹo nhà tôi, vì ở đây có  người  cho  ăn uống hằng  ngày ( heo Dalat từ lúc  lọt lòng được lau bằng   khăn sạch,cho đến khi hoá kiếp thì chả đòi được tắm rửa,vì tắm thì chúng nó.. đổ  bịnh ! ). Hai má tôi,  so với các  cô  dì cùng tuổi trong ấp, suýt   soát ba mươi ngày ấy, thì  biết đọc biết viết,lại rảnh tay rảnh chân việc nhà,bởi chỉ có mỗi tôi là “ con  lạch chạch”( cái đứa  lẹ tay lẹ chân lẹ mắt,lắm mồm  lắm miệng )nên lại được giao cho việc “ ghi sổ sách, coi ngó” các món ấy, sau đó còn có  nhiệm vụ  giao trả cho  từng nhà , khi họ có đơn  xác  nhận.  Ba má con bỗng thấy mình bận rộn vô cùng .Một   niềm vui rộn ràng là  đi  họp, gặp gỡ nhiều  người, gần như từ sáng đến tối. Tôi nhanh chóng có tên trong Đội thiếu niên ấp, mà chị Bé làm phụ trách. Hai đứa tôi bíu lấy nhau,nhảy cà tưng, cứ như là  đã lâu chưa hề gặp lại,chứ có  ai biết tối nào tôi cũng ôm  gối xuống  nhà ngủ chung với chị ấy,  vì bà này đang học  lớp  Mười Hai,chuẩn bị thi tú tài IBM ( thi do máy tính  IBM chấm)


tức là thi toàn kiểu ABC khoanh,  rồi bỗng dừng,nên dù sao cũng lo lo , cả ngày hội họp  tối còn hát xướng,nhưng khuya về lại chong đèn ôn bài,tôi đến ngủ cho ấm ! Những lúc cùng rúc  trong chăn,   nhưng cả hai  vẫn thấp thỏm có  người đến gõ cửa, hỏi thăm : hai cái con lạch chạch, giờ này mà đã đi ngủ rồi hả ? Dù trước đó vào cuối   năm  73, chúng tôi   được ông  Tiến chủ trại cưa trên vùng Cầu Số Mười,đường lên Lạc Dương,tìm  gặp ,nghẹn ngào bảo : chú ấy..  ở ngoài Côn Đảo.. Chỉ mong mai kia hoà bình ra ..thăm mộ ! Và lần đầu tiên   tôi sững sờ vì  bắt gặp một người đàn ông da dẻ luôn đỏ ửng như một ông tây,  ria mép  hài hước, to khoẻ,thế mà hai tay bưng mặt khóc  rưng rức: không có chú ấy, thì cả nhà tôi   giờ này đều  vô Chí Hoà hết  rồi ...

 Chị Bé được cử đi học lớp tập huấn cán bộ phụ trách Đội.  Người giới thiệu “ chức vụ “ này cho  chú Sằng, gọi là  trưởng ban quân quản ấp ngày ấy là ..tôi, thứ đến là  Hai má tôi.Vì tôi nghĩ, đi   tập trung bọn con nít thì cần biết  chiều chuộng tụi nó,rồi biết hát hò, biết thổi còi đánh morse,   biết tổ chức các trò chơi lớn …mà chị này từng  tham gia phong trào Hướng Đạo, nên hợp lắm. Hồi ấy thanh niên cả ấp cùng tuổi đều có  mặt trong đội văn nghệ, rồi  họp hội. mà bà  chị tôi nhút nhát cứ bám lấy tôi, nên  nghe chức này thì nhận ngay.Học bên trường Yersin,hồi ấy có  tên là  Trung tâm giáo dục Hùng Vương, cũng chỉ dành cho  diện con ông cháu cha . Chị đón ngày  Thống Nhất Đất Nước   30.4  trong trường tập huấn ấy.

Buổi về nhà,  lời đầu tiên  thì thầm chị gặp tôi, khi tôi ôm gối xuống ngủ cùng chị ,là : có chú bộ đội nào  tìm ..hai đứa mình không ?

 Tôi  ngơ ngác giây  lâu,rồi cười toe : Có một chú, mà chú này hỏi thăm chị T. Chú ấy muốn tán chị T.Chú ấy hỏi nhà,em chỉ  xuống  đây.Chị T là chị gái lớn  trong nhà.

Chị Bé  ngồi sững  người, rồi thất vọng  quay đi, sau khi  chán chường  bảo : Nói chuyện với mày ..thôi tao không nói nữa !

   Đến mấy năm sau, khi  cùng đi thi đại học ,tôi mới hiểu “ chú bộ đội tìm hai đứa mình “ là ai .  Chị tôi luôn nhớ mong, chờ đợi, dù  hẳn   dáng vẻ của ông Tiến trại cưa hôm nào khiến chị bàng hoàng và thổn thức nhiều đêm. Vâng,chả ai trách chị  sao cứ hy vọng. Hồi ấy  dù  bận ngày bận đêm, chị  vẫn dành thời  gian dịch cuốn “The Islands of  Greek”  toàn bằng tiếng Anh,một  cuốn  tạp văn về nước Hy Lạp.

Lý do là ,chị bảo, chú ấy hồi xưa mơ ước được có dịp ghé nơi này, thăm một cái  ông  nhà tu ở một mình trên hoang đảo, và xứ này  có ngàn hòn đảo, với biết bao    nhiều truyền thuyết  hay  lắm.   Tôi bảo tôi có công tra từ điển,lục tìm   cuốn sách English  Grammar  của tác giả Trần Văn Điền để cắt  nghĩa vì sao tác giả lại dùng kiểu câu này, nó có ý nghĩa  gì .. giúp chị dịch cho nhanh, thì cần ghi tên cả  tôi nữa,khi làm món quà tặng “ chú bộ đội  ấy”.  Ngày ấy bọn tôi chẳng hề đi học thêm bất cứ  môn  học nào ,môn Tiếng Anh  cũng không thể  ra tận phố,học ở  Hội Việt Mỹ,vì đi  đêm bất tiện vô cùng,nên  tất cả các môn đều tự học , người thầy là  sách, nguồn tri  thức vô tận,  và  một vài  người bạn.Có bao  nhiêu tiền  dành dụm, rồi còn thường xuyên  xin thêm ở  bố mẹ,  nhóc tôi ngày ấy cũng thế,rất may là  có  nhiều cuốn  tôi   được mượn từ   người chị  yêu  dấu này,dù  chị có môt  người em  hơn tôi hai tuổi   cũng rất cần. Bạn bè  thì bạn học ở  lớp, Chị Bé còn  chị  Vĩnh Tiến, cô cái  gái út ông Tiến trại cưa, và hẳn nhiên là tôi !

Tôi vô tư tham gia đội văn nghệ   thiếu nhi của ấp. Tôi là đứa trẻ lai, hay nói theo kiểu “ nướng bánh mì “ của chị Giang sau này  thì tôi là ổ bánh mì  bị nướng dở chừng,chín mà còn trắng từ  ngoài   vô trong. Hai má  nhặt được tôi ở   nhà ga Gia - rây, Xuân Lộc, Long Khánh,một buổi đi  làm rẫy về. Hai má khen , hồi nhỏ tôi “coi  ngộ lắm,  cứ như con  búp bê vậy”. Rồi tôi theo họ  đến một đồn điền cao su, hai má làm công nhân cạo mủ, rảnh thì may vá  cho người ta, vì dạo ở  trong trại mồ côi, họ được học nghề này ngoài các lớp văn hoá. Và  khi tôi bảy tuổi thì dọn lên ấp này. Tuổi  đẻ thì tôi cầm tinh con cọp. Ai cũng xót xa vì tôi không có cha, không có mẹ  ruột, lại bị liệt một tay do di chứng sốt tê liệt, và lo lắng cho cái số “con cọp” của  tôi: cao số,khó lấy chồng, khó làm ăn ! Tôi  cứ sống hồn nhiên, vì xung quanh tôi cuộc sống là một thế  giới màu hồng dưới con mắt  ngây thơ của tôi.  Khó lấy chồng ư ? Ồ thì hai má tôi đó, đâu có chồng mà vẫn có tôi, vẫn sống  tốt.Khó làm ăn ư? Thì cứ cố  gắng như lời “chú bộ đội “ căn dặn: không được làm chuyện phi pháp,phải thật thà siêng năng,  và  luôn  đưa tay giúp đỡ   người  khổ cực như mình”. Trước  ngày hoà bình,tôi được một tổ chức  của người Mỹ  hỗ trợ tài chính hằng tháng, gọi là  Hội Cha mẹ nuôi quốc tế.Vì tôi là nữ nên  Hội luôn cử  những   người thuộc phái nam làm bố,có khi là một  thương nhân,một công chức,có cả sinh viên đang đi học. Hằng tháng, tôi được nhận một số tiền,tôi không  biết rõ vì hai má đi   nhận,nhưng dư dật cho một đứa bé nông thôn  ăn học. Những dịp lễ lớn thì có quà,   có thêm sách truyện bằng tiếng Anh rất dễ đọc,  rồi cả  vé xem xi nê ở những rạp lớn trong thành phố. Các “ông bố” người Mỹ gửi thư đều đặn hàng tháng, dù  tôi biết họ   bận rộn.Thư họ kể,bây giờ có dịp nhớ lại, đều chứa chan tình cảm  giữa  người với  người.Họ tâm sự với tôi kể cả những niềm vui ,nỗi  buồn lớn  trong gia đình họ,chứ không phải chỉ dừng lại ở  những lời thăm hỏi xã giao. Người giới thiệu tôi  đến tổ chức này chính là “ chú bộ đội” ngày tôi lên bốn,   sau  cơn bịnh kinh hoàng,sốt tê liệt. Vậy mà  giờ khắc hoà  bình, khi mọi  người từng giây phút   hồi hộp chờ  người đến tìm, thì tôi lại vô tâm đến đáng trách.

Sau ngày  30.4,mọi thứ thay đổi, vì trường học  mở lại, tôi bỗng có nhiều đứa bạn, đám bạn theo  gia đình  rời đi vội vã  vào   ngày   31.3  75  có  nhiều đứa  quay về,  ,còn bạn cũ thì  đi đâu cả   , dần dần   mới biết, đứa  đi học trường khác, vì  sau đó hệ trường công lập không còn,  ai ở vùng nào về vùng đó,  đứa   đi vùng kinh tế mới, đứa  ra   nước ngoài,  còn  tôi cứ lớn dần.  Khi tôi ra trường, làm cô giáo,giai đoạn  1985-87,mới rộ lên hiện tượng “ con lai”chứ suốt hăm mấy năm   trôi qua,  trong con mắt mọi  người,ở  Dalat,ở thành phố Hồ  Chí Minh,  tôi là  một công dân Việt Nam,một người  Việt  trăm  phần  trăm  .Không phải vì tình trạng thể lý  - liệt tay phải - , hay do tôi có làn da khác mọi ngươi- mà  ai ai cũng đối xử thân thiện với tôi. Từ tuổi  học mẫu giáo,tôi  được các cô giáo  khen “con nhỏ  tành lanh”tức là  láu lỉnh,  nhanh nhẹn, chứ tôi không dám nhận mình  là đứa   thông minh. Từ tuổi bé tí tẹo, tôi đã hiểu :  đừng làm khác những  gì mà mọi  người từng  cho là đúng, rồi phải luôn cố gắng, đừng sống che đậy, dối trá, biết  nhìn xuống, tức là    có tấm lòng nhân ái.Chị Bé từng khen tôi:hồi nhỏ, Hoa Tre đã  biết sống tốt ,nên  người khác cũng tốt với mình. Coi trên truyền thông, những trang You Tube,  đôi khi tôi nghe những lời tâm tình  của một vài bạn,  vì họ cũng cỡ tuổi tôi, có  người nhỏ hơn, thuộc diện con lai,  sang Mỹ định cư,rằng    họ từng bị cô lập  thời còn bé,khi ở quê nhà . Cũng có thể vài cá nhân riêng lẻ, nhưng   với tôi,thì việc ấy không hề có . Những ngày gia nhập đội  Thiếu niên tiền phong,  tôi bất ngờ biết mình … có máu văn nghệ.Múa,hoạt cảnh, hợp ca, đơn ca,  thậm chí được  cử đi thu âm tận đài phát thanh Tỉnh Lâm Đồng ngày ấy, tôi cũng có tên, có mặt. Tôi nhớ  khuôn viên Đài còn  nhỏ lắm,nằm  trên vùng  đồi trông xuống hồ Xuân Hương. Không phải vì tôi “dựa hơi “chị Bé tổng phụ trách, mà   việc chọn là do các anh chị trên Tỉnh .  Đến bây giờ,trong  tim tôi vẫn bồi hồi ngân vang những câu hát “ Bay lên nào, em bay lên nào/Ngày vui toàn  thắng tưng bừng pháo hoa/Bay lên nào, em bay lên  nào/Vui bạn Nam  Bắc về trong một  nhà..


Chị Giang  thỉnh thoảng  hứng chí   cũng hát khi  cả ba chúng tôi,Giang, Bé, Tre gặp nhau ở  quê các chị hay  nơi tôi đang ở,   Tre bay lên nào..Tre cùng Giang Bé  về trong một  chòi . Ngày ấy,  tiếng  hát  non nớt tuổi  mười  ba  của tôi   vang lên trong làn sóng phát thanh tỉnh, thế mà có mấy  người bạn mãi Hà Nội lắng nghe, rồi gửi  thư đến tận nhà tôi,làm quen,có cả  nam lẫn nữ. Các bạn ở loanh quanh khu tập thể  Nguyễn Công Trứ  Hà Nội. Khu tập thể được xây dựng trên nền đất cũ từng là nghĩa địa của người Pháp. Đây từng là biểu tượng cho cuộc sống văn minh thời kỳ bao cấp với các dãy nhà kiên cố và hành lang chạy dọc ở giữa. Các hộ gia đình cán bộ, công nhân viên chức nhà nước, được chia nhà ở đây từ  1960, chị Giang  giải thích , còn chỉ  dẫn rành mạch,  để như tôi có dịp ra thăm vào  những năm sau thì dễ tìm ,khi tôi quen biết chị  vào  tết  1978,chị lên Dalat đón xuân cùng chúng tôi, Nằm tại phường Phố Huế, quận Hai Bà Trưng, khu vực tập trung đông đúc , phố chính của Hà Nội đấy. Tôi cũng mô tả sơ lược về  con đường Nguyễn Công Trứ  phía  sau  nhà tôi,  trước vườn nhà chị Bé, nơi hai má tôi từng làm công ở đây.  Con đường Nguyễn Công Trứ ngày ấy  đìu hiu,một bên là đồi, đồn lính đầy kẽm gai , một bên là thung lũng rau. Nhưng các bạn Hà Nội thì nức nở khen Dalat đủ thứ,nào có rất nhiều loài   hoa đẹp,  phong cảnh thiên nhiên tươi thắm,khí hậu mát mẻ như trời Âu.. Họ có ảnh chụp chung ở sân nhà khu tập thể,chắc hẳn  moi từ album gia đình, gửi cho tôi, còn tôi thì  chọn một ảnh  chụp để dán học bạ,gửi cho họ. Lúc đó tôi đã   có ý đồ chuyển giới,nên tóc hớt tém, vẻ mặt  nghịch ngợm như con trai, cộng với cái tên La Xá Xị khiến nhiều bạn  nam  thích thú,nghe hát sao cứ ngỡ là ..con gái !

 Hồi đó tôi đang  tập  toẹ học đệm đàn ghi ta, tôi nhớ khi tôi    say sưa với điệp khúc :

Đêm pháo hoa,  vang tiếng ca/Hoa lưng trời và  hoa trong ánh mắt/Đất nước mình  bao nhiêu hoa đẹp
 /Bác vun trồng giờ nở hoa dâng  Bác.

 Chị Bé  ngồi bên vỗ tay hát theo,nhưng rồi phút chốc  hai chị em mắt  nhoà lệ.  Chú Chuột Đen,khi tôi biết thì có tên Đa,mãi đến ngày hoà bình ,mới biết tên thật của chú  rất  không giống con trai chút nào . Tên Hoa.

 Sau này ra làm cô giáo,có lần tôi bắt gặp một bài thơ  mà câu nào cũng có một chữ Tím : Nàng mặc màu áo tím,chợt tím cả bầu trời. Tôi về  yêu sắc tím,  và tim tím  hồn  người .. Tôi lại nhớ về những câu hát  ngày  30.4 năm ấy.
Đêm pháo hoa,  vang tiếng ca/Hoa lưng trời và  hoa trong ánh mắt/Đất nước mình  bao nhiêu hoa đẹp
 /Bác vun trồng giờ nở hoa dâng  Bác.

Những ngày   chị Bé đi học rồi đi dạy xa,tôi lên cấp ba, hai má tôi được  nhận làm tạp vụ cho  mấy cơ quan hành chính  trên tỉnh,cũng nhờ  có các chú trong uỷ ban quân quản ngày trước cử đi, vì họ thấy  các má  chân chất, cần cù, lý lịch tốt.Làm việc ở các cơ quan công quyền,nhà lại gần bên trụ sở Uỷ ban ấp,nên  rất nhiều chú cán bộ, bộ đội tìm đến,nhờ tìm  người quen, nhiều nhất là  những  người sinh trưởng từ bên kia vĩ tuyến  17, vào vùng Lâm Viên này định cư,  từ  rất lâu.Họ cũng xem tôi như bao   thiếu nữ thuần Việt,  có  người buột mồm,trời,con  gái  Dalat,ăn rau  ăn quả nhiều nên da dẻ nom tươi   tắn quá nhỉ .

 Tôi xa thành phố với  biết bao kỉ niệm,    để đến  định cư một nơi cuối trời nam.Má Mười  ngó vậy mà lai láng hồn thơ,có lúc  ngồi buồn thì  nỉ non :Tấm áo nâu, rướn mình đi từ cõi rừng cao / Dắt dìu nhau vào đến Cà Mâu, áo ơi / ( Tình ca- Phạm Duy ). Buổi từ   một khu đồn điền  cao su vùng Long Khánh miền đông đất đỏ,có “ chú bộ đội”  dẫn đường, nay về đây có cô Kê,một cô giáo,chồng cũng là một “ chú bộ đội thầy thuốc” chỉ lối,  cho nên dù bao khó khăn,  năm con  người trong nhà đều vượt qua .  Đã có  nhiều  người   đùa : sao hồi có  điều kiện đi Mỹ mà sống cho  sướng,mày hổng chịu đi ! Tôi cũng đùa :ừ hé,rồi cứ tháng tháng tui gửi về cho bà vài thùng ,bà khỏi phải làm gì hết ,sướng thiệt. Nhưng chị ấy  xì ra một hơi dài: ở đâu cũng phải làm cực  khổ mới có ăn. Rồi chị thì thào :có  người  về già cũng muốn về đó.Nói gì thì nói chứ  quê cha đất tổ vẫn là nơi người ta tìm đến khi đã thấm bụi trần . Hai má tôi thì  giải thích theo kiểu “ đi thì   zụt con nó cho ai. Tụi tui chỉ là bà ngoại hờ”.Nhưng tự đáy lòng, đến  bây giờ tôi tự thú mà không thẹn với  lòng ,rằng  tôi muốn ở lại nơi này.

Tôi muốn có dịp  ghé thăm mộ “ chú bộ đội” một con người  không cùng  huyết   thống ,mà hai má tôi xem như em   út ruột thịt trong nhà,chú ấy cũng coi tôi “ cái con lạch chạch” láu cá,luôn nhắc   nhở tôi   rằng  hai má lo cho mày,mai mốt mày có đi lấy chồng,đẻ con,cũng đừng quên ơn hai má mày đó.



 Báo hiếu, đó là  bổn phận  của kẻ làm con,   và với ba má con tôi, có lẽ Ông Trời thu xếp,cứ đi đến đâu cũng phải có nhau. Tôi đi học   làm cô giáo mà sinh con,phải có hai má   giúp đỡ,chìa cả bốn bàn tay chứ không phải “ phụ nó một tay”. Rồi nuôi một lúc ba   bé   nhóc  ,liệu thân tôi,chỉ một bàn tay duy nhất,  có làm được không ? Hồi đó,mà  bây giờ cũng vậy, hai chân tôi   rất to, vì chúng nó, hai  người bạn thân thiết  nhất của tôi,   nhận lấy công việc của  bàn tay phải bị liệt.  Mỗi khi  đi mua  giày dép,bao giờ tôi cũng lượn lờ ở hàng  “các ông”, vì mọi số  cỡ  36   đến    trước   40   của  phe chị em  ta  tôi   chỉ mua  được  cho hai  má,cho con gái, bây giờ còn mua cho má con cô  Kê nữa,chứ  phần tôi thì ,  tôi tự  chọn.Và do vậy mà  kiểu  nào  ai  trông thấy cũng nhăn mặt :  khiếp,thứ này đàn ông  họ đi,chứ  đàn bà   mà  xỏ vô, ngó mà  … Các con  trưởng thành,làm ăn khá giả,  nên muốn tặng má đôi giày, đôi dép,thì   cù rủ má đi  ra hiệu đóng có nhiều   kiểu, để cho bác thợ đo.  Tôi  xót  của, vì thứ đi dưới chân,có đáng gì,  là  lẩn nhiều bận, khiến ba đứa con đều giận dỗi .  Bọn nó   đôi  bận ra nước ngoài , việc mua sắm đầu tiên là  “ ra  phố giày dép” Trước đó  đi  qua  gặp mấy bà đầm là  dòm dòm thử kiểu các bà mang là  kiểu gì, có khi tọc mạch còn hỏi : thứ này bán ở đâu ?   Bây  giờ,  tuổi già bóng xế,có thể  sống ở  miền quê,mà bởi tôi   muốn   tri ân má con Cô Kê,những  người luôn coi tôi là “ người nhà “, tôi cũng cần có hai má bên cạnh, thế là  cả ba má con lại lên phố lớn .



Chúng tôi đã có  dịp đi  viếng mộ chú ấy ngoài Côn Đảo.  Ở đây,  có  khắc một bài thơ của cụ   Cụ Phan Chu Trinh viết trong những năm tháng bị giam cầm ở đây.

Với cụ,  sống  những ngày ở Côn Đảo là một  hệ quả tất yếu của  mọi kẻ mang hai chữ “ làm trai” trên con đường cứu nước,bởi đó là tư thế “ đứng  giữa đất Côn Lôn”. Cả bài thơ dồn vào  cặp  tính từ láy “  lừng lẫy”,   mô tả    phẩm chất của một  con người  với  danh tiếng vang dội, được biết đến rộng rãi với sự ngưỡng mộ. Trong  suốt hơn nửa đời  người, tôi đã   tiễn    đưa bao  người  thân, bạn bè  đến nơi  an nghỉ cuối cùng,nghĩa trang nào cũng bề thế, san sát  những vòm mộ bia được   tạc đá,khắc chữ  nghiêm cẩn,có   nơi đồ sộ  như một  ngôi  nhà   của  người  đi xa .Còn nơi chúng tôi tìm đến.. Có một thông số nhiều  người trong chúng tôi  biết khi đến.Trong số hơn 1.900 phần mộ tại nghĩa trang Hàng Dương Côn Đảo, chỉ 713 ngôi mộ có thể xác định danh tính. Mộ “chú bộ đội thân yêu “của chúng tôi ở đâu? Có trong  713  ngôi mộ có tên,nay là số của hơn  tám trăm  ngôi mộ còn  lại. ? Chúng tôi đến vào giữa trưa,miền biển  nhiệt đới phương Nam lồng lộng  gió,  đi  ngoài đường nắng đổ  lửa trên đầu,nhưng nơi đây thật mát,bởi có  vô số  bóng cây xanh  toả  bốn bề,  những hàng bia   hiện ra trước mắt chúng tôi  là  những chiếc trụ cột  đơn giản,bên trên có gắn những khối  hộp có   khắc  một ngôi sao  đỏ chói,tượng trưng ánh sáng của Đảng.   Mỗi khuôn mộ là một khối đá đen  chữ nhật, cũng nhỏ  nhắn như  phù hợp  cột bia,   nằm rải rác, đều đặn  khắp một vùng  cỏ   xanh  rộng  hút tầm mắt . 

Chúng tôi đứng thẩn thờ,nhoà lệ. Người thân yêu năm xưa của chúng tôi đang ở đây,nhưng ở     đâu? Không,  anh ấy   đang ở  đây,   rất gần với chúng tôi.



Tôi chợt nhớ những  năm tháng tôi còn bé,anh lúc ấy là một thanh niên đôi mươi,   trai tráng,khoẻ mạnh, tươi tắn,   một  tối xuất hiện ở nhà tôi, áo  quần nhuốm đầy  đất đỏ. Má Mười tôi la lên:

- Mày ở đâu ra,  đất vườn giờ này đầy sình mà ?

- Ối,  đất này quí lắm, tận…

 Anh ngắc ngứ, đưa tay chỉ .  Khi cả bọn gồm hai bà chị   Vĩnh và Bé  vặn tra, anh  bảo:

-Tao  xuống hầm sâu,cho biết.

 Ừ thì  vùng quê tôi nhiều nơi người ta cũng đào hầm,  bởi chiến tranh thì  sống ở hầm   tránh bom đạn là lẽ đương nhiên. Bỗng  chú bộ đội ấy thì thầm :

- Ai   rồi cũng một lần xuống !

 Và như sợ chúng tôi  có cái  bản chất “lạch chạch “ vặn vẹo ,anh thêm như  để kết thúc câu chuyện về “ bộ  quần  áo  nhuốm đầy đất  đỏ “:

- Mai mốt tụi bay lớn lên, khi đó biết đâu thanh bình rồi, đi học  người ta cho đến  .. chỗ có hầm, hầm có súng ống đủ thứ, thì  cố gắng xuống coi cho biết.

Rồi anh quay vội lưng đi,bao giờ cũng vậy, vì anh này rất  bận rộn :

- Thôi,  tao  nói  vậy thôi, đừng thắc mắc làm chi cho mệt. Tao có nhiều thứ phải lo, tụi bay cũng  vậy, mà ai cũng vậy hết !

 Những năm học đại học,nhà trường đã tổ chức cho chúng tôi đến viếng địa đạo Củ Chi một lần . Tôi chợt  như thấy anh đứng đó,ôm bộ  đồ    bám đầy đất,  miệng  thì thầm:Ai   rồi cũng một lần xuống



Bất giác tôi đưa mắt  nhìn quanh.Hồi ấy tôi  vừa đi kiến tập sư phạm ở năm học thứ ba, bi quan lắm,kiến tập tức là chỉ “ nhìn “ để  học tập,nhìn thầy  dạy thế nào,bọn học trò  ra làm sao  dưới góc một  cô giáo tương lai, cách  soạn bài  vở,làm sổ sách , mà thế rồi, vì ở trường  phổ thông,  chỉ có vài lời, nhiều ánh mắt  về cánh tay không  như mọi  người của  tôi, khiến tôi đau đớn ,trong khi ba đứa bé   và hai má lại đổ bịnh cùng một lúc… Tôi hiểu,   trước khi nằm xuống thì hãy  đứng    thẳng,    và  nhớ “gian nan chỉ là chuyện con con”.



 Tôi nhớ đến một cây tiếng Anh dán ở đầu bàn học của anh bên nhà ông Cửu Điền ở   đường  Nguyễn  Công  Trứ   người chú  họ đã  dẫn anh ngoài  quê vào đây : To be a man,one must  suffer the  blows of misfortunes.  Khi học  đến tập thơ Nhật ký trong tù của Bác Hồ,chúng tôi hiểu, à đây là lời Bác tự động viên mình  giữa chốn lao tù xứ  người :  Sống ở trên đời, người cũng vậy/ gian nan rèn luyện mới thành công.



Bây giờ  thì anh ở trong lòng đất nơi này,đất Côn Đảo có  màu nâu trầm, nâu đỏ ,nhiều đá,thứ  đất  đồi núi và các phiến cổ thạch lâu năm. không  phù hợp cho    các loại cây rau  mềm mại miền ôn đới cao nguyên nơi anh  trưởng thành, gắn bó, cũng không phải  là vùng nhiều phù sa cho  lúa  tốt tươi ở miền tây sông nước tôi về, mà    Anh tự  nguyện  đến nơi này,  vì anh  đã có những tháng ngày “mưa nắng chi sờn dạ sắt son”. Anh chết tốt vì anh đã từng sống tốt. Dẫu  còn lại ở Anh là  tấm bia  cột đá,khuôn mộ cũng  là khối đá  vuông vuông,nhưng tất cả sẽ trường tồn với thời gian. 

Bởi  nối   tiếp bước chân Anh có  lớp lớp thế hệ đàn em  năm mươi năm qua  không dừng lại. 

Từ những  đêm đêm co ro trong chăn,chúng tôi phập phồng chờ có chú bộ đội đến gõ cửa,hỏi han,mắng mỏ mà vui mừng,bây giờ đã qua năm mươi năm  lẻ. Người thiếu nữ thổn thức hằng đêm nay lại trở về  ngôi nhà xưa,sống  ẩn dật nhưng không cô độc. Cuộc sống ngày nay khiến không một ai thấy cô đơn lẻ bóng.Bước ra đường là  phố xá ngựa xe  xuôi ngược,  về nhà nào là  ti vi, lap top,điện thoại,  rồi bao con người,chỉ alo, hay email.  Đi khám bịnh, chợ búa,thăm viếng cũng trở nên đơn  giản. Người anh ,chú bộ đội đi  xa, nhưng anh vẫn rất gần.  Những năm tháng  đã qua, từng thấm thía “ dẫu mưa nắng,trái đất tròn vẫn đẹp” nên  luôn ý thức “đời yêu ta, ta phải thắng cho đời”. Thôi cứ như thế cũng được,dù  chị Bé bị di chứng chất  da cam nên ngày đêm khốn khổ với bao  căn bịnh tuổi tác, nhưng vẫn lạc quan.Có chút lương hưu, cả tiền  thừa kế,rồi có niềm vui, và sức khoẻ không chỉ là mặt thể lý,mà con tinh thần,nên cứ sống tốt, thì mai kia  sẽ  một lần xuống đất  thôi.

                                    HOA  TRE.