Viết để cám ơn các Anh Chung, Sang,Chiến .. và tập thể các anh chị lớp 8B ( 1977-78) trường Phú Ngọc A, huyện Tân Phú ( cũ ) Đồng Nai đã hết lòng đã giúp đỡ bà giáo ngày xưa trong suốt thời gian qua .
Và chúc gia đình Anh chị Linh - Phương luôn gặp điều tốt lành.
Ông Bọ của chúng tôi đã có những ngày tháng yên bình khi đến sống tại thành phố êm ả này. Cứ mỗi thời khắc trôi qua, nhìn mấy đứa cháu nội của ông cụ lớn dần, hai anh con trai nhẩm tính số thời gian ông ở đây.
Một người bạn vong niên của ông, quen biết tình cờ tại câu lạc bộ dưỡng sinh dưới thành phố Hồ Chí Minh,khi ông Bọ rời Hà Nội có gia đình anh con thứ, về với anh con cả,ở đây. Ông này lên Dalat cùng vợ chồng tôi thì ông kia, cũng bất ngờ đưa cả đại gia đình lên mở khách sạn ở vùng dù xa chỗ nhà tôi độ năm sáu cây số, ôi vù xe thì mấy hồi.Quản lý khách sạn có khi khá bận rộn,nhưng có những khoảng trống mà không biết phải làm gì.Thế là ghé quán cà phê nhà tôi,ông Bọ đang làm việc ở đây, một công đôi ba chuyện,đi thư giãn ,đi thăm ông bạn hơn mình cả con giáp,và tìm thêm mối tương giao. Nay ông lại mở một homestay lùi sâu về vùng đồi xa , giao khách sạn cho các con,mỗi lần muốn ghé thăm ông bạn cố tri phải lái xe vòng vèo nhiều đường đèo cao,dốc dứng, đến hai chục cây số,nhưng vẫn ghé quán đều đặn mỗi tuần một lần. Ông đến, có khi chỉ cùng ông Bọ ngồi trầm ngâm bên nhau, thường chọn thời điểm quán vắng khách, uống một ly trà pha thật đắng rồi thì … ra về . Nom dáng ông bụi bặm ,phong trần như một lãng tử,tóc hơi lùm xùm, quăn tự nhiên,râu quai nón, luôn mặc bộ trang phục của người thường xuyên trên lưng ngựa,áo ghi lê vải dày,quần jean, giày bốt gót cao, nón cao bồi bẻ ngược vành, ngậm tẩu ,nhưng hút rất ít. Ông bảo trang phục này ấm,gọn,phù hợp với khí hậu lạnh lẽo vùng này và công việc luôn di chuyển của ông, hơn nữa lại được người thân gửi từ nước ngoài v ề làm quà, chứ ông không có mộng làm một kỵ sĩ. Ông bảo: tôi có tìm hiểu, tậu một chú ngựa mất hơn hai trăm triệu,rồi hằng ngày phải đi kiếm cỏ từ vùng bờ vườn tận ngoại ô xa xôi , vì vườn bây giờ toàn nhà lưới, có khi phải đi gom vỏ trái bắp tươi từ những sạp bán bắp sỉ hay các bếp luộc bắp,tóm lại là khá mất thời gian và tốn kém . Ông cứ ngồi ở nơi quen thuộc,nhìn về một góc quán,có chiếc máy hát dĩa không biết chú Quỳnh, chủ khu đất này,em ông Bọ,mua lại từ đâu, có vẻ thích thú và trầm ngâm như đặt hết tâm trí vào một vài bài hát của một thời xa xôi . Máy đĩa than cũ, các bài hát cũng ,theo ông,nó quen thuộc với ông từ hơn nửa thế kỷ trước. Cólúc ông thì thầm ngân nga.
Đường về nhà em,cách hai đoạn đường dài.
Tuy xa mà gần,tuy gần mà xa ..
Chắc ngày xưa ấy ông khách đặc biệt này từng có một mối tình đẹp và dang dở. Vì thế mà đẹp.
Ngày biết tin ông Bọ bị đột quị,ông cũng tự lái xe theo đoàn chúng tôi về tận Thủ Đức để thăm,sau đó ông cũng bỏ việc nhà mấy hôm để tiễn biệt người bạn cố tri.
Và ông vẫn ghé quán đều đặn, dù nơi này chỉ còn hình bóng ông Bọ qua chiếc máy hát cũ và bài hát có giọng hát của một cô ca sĩ từng lớn lên ở vùng Thủ Đức,nơi hai ông cụ gặp nhau lần đầu, mang nghệ danh hai thứ thảo mộc có nhiều ở khắp các miền quê nước Việt - Trúc Mai .
Bởi với ông,tuy xa mà gần…
Các con và đám cháu chắt của ông Bọ dưới thành phố là sợi dây móc nối với người bố dượng của tôi, con số ấy với ông là tất cả .Khác hẳn với ông bố đẻ của tôi tại Hà Nội, ngày đưa tang người người vòng trong vòng ngoài trong nhà vĩnh biệt,ông Bọ dường như không có ai. Ông cô độc từ bao giờ . Cưới mẹ tôi khi miền Bắc vừa ra khỏi cuộc kháng chiến chống Pháp gian khổ, mẹ tôi đi học nước ngoài về, thì đối diện với một mặt trận mới :vừa xây dựng hoà bình nơi đang sống,vừa dồn sức lực để đấu tranh thống nhất nước nhà . Ngày ấy tôi bé quá, khoảng thời gian ở chung với gia đình mới của ông và mẹ tôi dường như rất ít, vì bởi sau đó thì mẹ mất- bà bị bom khi đi công tác, người ta kể bà còn đeo một cây súng trên vai,lúc ra ruộng cấy thí điểm- Hai người con trai khi ấy còn rất nhỏ, anh lên sáu và bé em đang thỏ thẻ trẻ lên ba . Bố đẻ tôi cũng vừa đón cậu bé con đầu tiên cùng Mẹ Thu, cũng chật vật nhọc nhằn chăm trẻ trong chiến tranh, nên thấu hiểu lắm . Ông tìm mọi cách để chia sẻ bớt khó khăn với một người từng là đồng đội của mình. Ông Bọ luôn lặng lẽ, từ khi cưới mẹ tôi,biết bao lời ra tiếng vào, rồi lại âm thầm nuôi con. Bố tôi kể có tìm cách mai mối một cô trong cơ quan,chồng đi B hy sinh,mà chưa có con, nhưng ông Bọ từ chối. Người bạn thân thiết của ông quãng thời gian ấy lại chính là bố đẻ của tôi. Và rồi ông cứ lặng lẽ làm lụng nuôi con, chẳng bao giờ than thở,không nhìn ngang nhìn ngửa,mà chỉ nhìn hai con mà sống. Niềm hạnh phúc của ông có lẽ lúc được nghỉ ngơi sau một ngày dài quần quật việc làng xã - ông làm kế toán cho một nông trường, và còn kiêm thủ kho, rồi đội trưởng đội sản xuất,bởi tính ông chu đáo,thật thà ,và bởi chiến tranh ,bao nhiêu lực lượng ưu tú,trai trẻ ra mặt trận cả - ngồi thư nhàn trên hiên,nhâm nhi ly nước chè xanh đắng chát,hoạ hoằn có thêm đĩa đậu phụng luộc. Người ta buổi tối thì không dám đụng đến nước chè cốt,trừ hai ông bố của tôi. Thứ giải khát khiến mọi người mất ngủ thì hai ông cụ này lại xem như liều thuốc an thần. Công việc phải giao tiếp nhiều, ấy vậy mà khi nào cũng thấy ông lủi thủi .. Rồi con lớn, bố nghỉ hưu, ông đành đi theo con, khi vào Nam,khi ra lại Bắc, cho đến lúc gia nhập với hai ông Dalat,mở quán cà phê Ba ông già .Bản tính đã ngại gặp gỡ,lại nay đây mai đó nơi này chốn nọ vì con vì cháu ,nếu ông có nhiều bạn thân thiết thì hẳn chúng tôi sẽ ngạc nhiên lắm !
Hoa Tre, người bạn của chúng tôi,làm mẹ đơn thân của một lúc ba đứa bé, rồi bây giờ lại một lúc làm con đơn độc của bốn bà già- hai má Mười, Tư, Cô giáo Kê và người con ( nay cũng gần bảy mươi của cô ) . Bà này xem ra cũng ít bạn,vì mải đầu tắt mặt tối cho bảy “ đấng ấy” thì lấy thời gian đâu mà tơ tưởng đến ai. Tôi nhớ có lúc cô ta chỉ mới vài chục năm làm người, cô nàng than thở với tôi , nói vòng tròn ấy cho có bài bản, chứ em thấy ba thứ - sinh, bệnh,lão- nó đã ..dính chùm với nhau từ khi nảo khi nào. Tre đưa cho chúng tôi xem tấm ảnh chụp khi làm hồ sơ giáo viên ở trường cấp ba,lúc này cô nàng chỉ độ hăm mấy, mà ai nhìn cũng kêu, cứ như gần…bốn chục.! Hay nói không khoa trương,tuổi hăm bốn mà ngỡ ..bốn hai ! Do Tre từng hớt tóc tém,nay ra làm cô giáo, tóc phải để dài che hai tai ,rồi uốn ngang, quăn quăn , mặt mũi bên ngoài thì vốn dửng dưng mọi sự,nhưng lên hình phải nghiêm trang ,thêm cặp kính cận dày.. Hai bà má cũng giật mình, ừ sao ngó nó già đanh vậy. Tre vốn chững chạc từ tuổi còn học phổ thông,bà bạn “ chèo đò đưa khách qua sông của tôi “ thỉnh thoảng vẫn lên giọng khâm phục : từ hồi tớ học đệ lục, ( tức lớp bảy bây giờ ), tớ biết nó, nó chỉ độ sáu bảy tuổi, mà nhiều phen tớ cứ có cảm giác nó là ..chị hai tớ ! . Khi không bế bên hông ba nhóc tì, ngay lúc vừa đi học, ra trường khi con đã tập tễnh vô mẫu giáo, má chưa kịp vô biên chế mà con thì ..biên lai đủ các món,rồi biên..bản vì quậy phá !Nhưng cuộc sống vốn công bằng. Khi hai nàng,Tre và Bà Bé già, nhân vật chính câu chuyện này, cùng học nghề cô giáo, bà đã kinh qua trường cấp hai mà than vãn: khi ấy, con Tre là ..má tao. Bây giờ đã ngoài sáu mươi hai mà nom,thôi không dám nói là ..hai mươi sáu,nhưng mà nhờ có cái vỏ trang phục lụa là,son phấn đậm đà, tác phong của kẻ…biết mình biết ta, cho nên ra vẻ là…!Và Tre lên chức với bà chị kia : hắn chừ là bà nội,bà cố của tau !
Cho nên bây giờ, bây giờ,có một người,gọi là khách của quán chúng tôi, vẫn không hề quên ông Bọ dù ông đã đi xa. Thật là hạnh phúc .
Một bà bạn già của tôi, Bà Bé già, cũng thế.Bà này làm cái nghề mà thơ ca ví von “ kẻ đưa đò”.Bà cũng không hề có nhiều người bạn.Mấy đứa chúng tôi, không được bà này xem là “ bạn “ mà liệt vào danh sách “ người qua đò” vì có một lúc nào đó, chúng tôi cũng sẽ ..có khác gì những người khách năm nào . Quãng đời thanh xuân qua nhanh ,quay cuồng chuyện lý tưởng, lẽ sống, hạnh phúc,mưu sinh, rồi bỗng cái quy luật nghiệt ngã của cuộc đời ,sinh ,bệnh ,lão, ập đến .Tôi chứng kiến cuộc sống của hai người cha và hiểu dần cái vòng tròn kiếp người này.
à
Bỗng dưng, tôi chợt liên tưởng đến một rừng cây !
Một dạo tôi có dịp phải đi về từ Dalat đến Thành phố Hồ Chí Minh vì nhiều lý do, đi công tác do cơ quan giao,rồi đi thăm bố tôi mỗi bận ông vào đây mà không có thời gian lên miền cao nguyên, rồi..nhiều việc khác. Con đường nối hai miền gần ba trăm cây số là quốc lộ Hai mươi. Đi hoài, nên quen, cứ mỗi bận xe dừng lại,nhìn bên kia đường là biết đang ở đâu.Tuy nhiên,khi xe vào hay rời khỏi “ miền ký ức “ thì tôi lại thấy bồi hồi. Huyện Tân Phú,tỉnh Đồng Nai ngày ấy trải dài gần như một nửa của quốc lộ, một trăm rưỡi cây số. Tên các xã đều bắt đầu bằng từ Phú. Đó là tên trên văn bản,còn có nơi, người dân vẫn quen với những địa danh cũ. Khu thị trấn Phú Hiệp, nhưng vẫn còn bến xe,chợ mang một cái tên máu thịt với nhiều người- Định Quán .Hoặc là cách gọi theo “ từng cây số”. Từ thị trấn , trung tâm Huyện,nơi tôi công tác suốt bốn năm,từ ngay sau khi ra trường đến lúc cô bạn thân quay về phố học tiếp,tôi hồi hương, tức về lại Hà Nội, đi thêm vài cây số, có một xã tập trung nhiều người gốc Hoa, vùng chuyên canh cây đậu tương của huyện. Người ta ít gọi Phú Hoa mà dùng cái mốc bao người cùng gặp gỡ,cây số 115. Đi lên chục cây số,có hai nhánh,một vô xã Tà Lài, nơi sinh sống của đồng bào dân tộc Châu Mạ, Stieng, một nhánh rẽ vào xã kinh tế mới Đồng Hiệp,thuộc xã Phú Điền, cư dân từ thành phố Hồ Chí Minh về rất đông, thì ai nấy,cho đến tận bây giờ, vẫn gọi chung “ cây số 125” khi trên bản đồ là Xã Phú Lộc. Trường bà bạn tôi ở ngay cây số 108 . Thực ra địa điểm trường nằm trên một ngọn đồi cao,muốn đi vào thì đến mốc cây số 108 bên tay phải, tính từ thị trấn,tức cây số 113 , thì lùi độ chục mét, tức là “một không bảy ..lẻ lẻ “ rồi rẽ phải, thêm một quãng cả hơn trăm mét, qua một vạt đồi chia làm hai, bên trái là cơ ngơi Uỷ Ban Xã, bên phải làm Trạm Y tế xã, đi lần xuống một thung lũng có hai vạt nương,một của Uỷ ban, gồm cả du kích, công an xã, các ban ngành đoàn thể ,một của Trạm y tế, đi đến dưới đáy thung lũng con suối nhỏ chảy qua,mùa khô thì chả biết đây là suối, may là có một chiếc cống bê tông khá to nằm sừng sững ở đó, rồi lại leo lên ngọn đồi thoai thoải khác, qua khu vườn rất rộng,chiếm hẳn một mé đồi, của trường, chuyên trồng sắn và rào bằng chuối làm ranh giới giữa nhà dân mé đồi bên hai bên,ranh giới với Uỷ ban và Trạm y tế xã, ,rồi qua khoảng sân mênh mông bụi đỏ,mới đến hiên lớp học. Bà bạn kể,hồi vừa về đây nhận công tác, hành lý lỉnh kỉnh - có nào chiếu,chậu giặt, ngoài túi xách hành lý -nên ghé vào văn phòng Uỷ Ban Xã xin nước uống (Bài học ở trường sư phạm là hễ về địa phương nhận công việc thì phải liên lạc được với chính quyền ở đây,bởi họ có mặt thường xuyên ở nơi mà người dân luôn tìm đến,chứ trường học có thời điểm các thầy cô đi vắng,hiệu trưởng cũng vậy.
và nhân thể hỏi thăm lối vào trường,bởi anh xe lôi đưa bà khách từ chợ Định Quán xuống, khi thả nữ hành khách lạ này thì hất hàm qua bên đồi,đó, cái trường cô tìm đó. Mắt hoa lên vì nắng nóng,khát nước,mệt,cô giáo trẻ chỉ nhìn thấy hai chiếc cột gỗ tròn trĩnh,rất to và cao ,có một tấm biểu ngữ vải trắng giăng ngay phía đỉnh cột ,chữ in màu đỏ . Từ xa vài chục mét nên chưa đọc rõ nội dung,thì hẳn là một cây khẩu hiệu cổ động nào đó .Bèn nhìn qua bên phải ,có một đứa bé gái độ tuổi cấp hai đang mệt mỏi ngồi chồm hổm bên một bờ giếng xi măng cao, nằm trên vạt đất trống xơ xác cỏ dại. Cô giáo trẻ đặt đặt hành lý xuống tò mò lần qua xem. Giếng sâu hun hút,có thể người ta cho lồng vào lòng đất đến cả chục đốt cống xi măng,mỗi đốt chừng một mét…Cô gái thoạt tiên khom lưng cúi nhìn, sau đó thì ngồi bệt xuống,bởi độ sâu thăm thẳm của chiếc giếng bề ngang chỉ cũng một mét, rất chóng mặt, toàn là những đốt cống,mà chả hề có lấy một chút nước nào,ồ không,có chứ, một vũng toen hoẻn tận đáy, nhận ra nhờ chút ánh nắng ban chiều vẫn hầm hập của miền nhiệt đới,và chiếu gàu nhựa bé tí nằm nghiêng, phần miệng có cán bắc ngang,cột một sợi dây dù dài khá dài.Rất lâu,cô bé gái mới kéo lên được chiếc gàu nhẹ tênh,bên trong chỉ độ một bát ăn cơm con con một thứ nước đùng đục như nước vo gạo, thận trọng mím môi đổ thật khẽ vào chiếc thùng sắt tròn cỡ hai mươi lít đặt cạnh chỗ ngồi, mà nước bên trong cũng như dán vào đáy thùng. Cô gái từ vùng nương đồi cao nguyên cuối quốc lộ Hai mươi kia đến,nơi chập chùng những thác nước,chằng chịt mương suối ao hồ, và giếng la liệt khắp vườn mỗi nhà. Giếng đào dưới thung lũng, không xa nhà nằm ven chân đồi,nhưng nước luôn lấp lửng miệng giếng,mà khi đào chỉ cần thả vài ba đốt cống. Còn ở đây .. Cô bé gái đưa tay chỉ thẳng ra phía sau lưng,nơi có con đường mà người khách vừa xuống xe lôi,bên kia đường là lèo tèo mấy ngôi nhàtranh,mở hàng quán, bán cá mắm và những món trái cây bản địa.Nhà con ở đó. Hỏi tên để làm quen ,chủ nhân vùng đất vùng đất mới này đọc luôn ,dạ Thiều Thị Huệ,dạ học lớp Sáu B bên trường. À,một học trò vừa làm quen,biết đâu mai kia gặp lại mà . Nhưng cô gái trẻ,cô giáo mới nơi này, đang bận tâm về nguồn nước ở đây.Hôm nào trước khi đi tham gia chiến dịch Xoá nạn mù chữ, giáo viên tập trung về Phòng giáo dục Huyện, một cán bộ Phòng bảo ngay : các thầy cô ở thành phố về,sẽ ngỡ ngàng vì huyện chưa có điện,trừ khu thị trấn mỗi tối có máy phát từ bảy đến mười giờ, còn nước thì .. có nơi phải chịu khó mang đồ đoàn về.. phố giặt..Bọn tôi ở đây hằng tuần vẫn chịu khó lội bộ xuống vùng sông La Ngà dưới kia tắm táp. Nhưng những thanh niên thiếu nữ trẻ nhìn nhau,ánh mắt như thầm bảo : ối,nếu người dân họ sống được thì mình cũng sống được. Bây giờ ,tạt qua dãy nhà xây bên trái, đây là cơ ngơi thứ ba mà cô gái bắt gặp là công trình kiên cố được dựng bằng táp lô,tức cát đá đúc thành từng khối vuông chữ nhật cỡ cuốn vở,trên dựng thành vách. Chứ cả làng bao quanh đều dựng lên từ tranh tre nứa lá. Một người đàn ông dáng vậm vạp,tóc hớt vuông vức trên đầu,da đen sạm,dãi dầu, tuổi áng ngoài năm mươi, nói giọng miền Bắc không pha trộn, lên giọng rất nghiêm chỉnh: A,trường Phú Quảng hả ?Ồ,phải đi thêm bảy cây số nữa ! Lúc ấy đã bốn giờ chiều. Nếu lếch thếch thêm ngần ấy chặng đường thì có thể là ..không kịp đến nơi trước khi trời tối ! Ngắm nhìn gương mặt lấm mồ hôi đầy lo sợ của cô gái trẻ,người đàn ông bật cười . Vừa khi ấy một thanh niên chừng ba mươi, cao lêu nghêu như cây sào,áo sơ mi trắng bốp, bước vào .Anh này lắng nghe câu chuyện rồi cười hô hố,đầy thích thú . Ôi, trường Phú Quảng nằm ngay sau tấm băng rôn vải đó .Bảng trường rớt lâu rồi,mà không treo lên ,vì ôi,còn nhiều thứ phải làm lắm .Nghe nói sang năm lại đổi tên khác,cho hợp với vùng dưới kia, bên sông La Ngà. Bởi vì hai xã cũng hợp làm một. Cô bạn này kể,mãi về sau,hai cột gỗ cao to sừng sững như những cây cột đình,được tháo đi,mà chẳng hề có trụ nào thay vào,dù ngôi trường mang tên khác, Cấp 1 và 2 Phú Ngọc A ( trường cấp 1 Phú Ngọc B nằm ở vùng sông La Ngà ). Khi ấy,đặt bước chân đầy bỡ ngỡ,lạ lẫm và không ít lo lắng về ngôi trường xa lạ,một miền quê xa lạ,hai cái trụ cổng hẳn đưa về từ những cánh rừng già xa xa sau lưng trường, ,là những vật liệu bằng gỗ duy nhất, vì những dãy lớp học đón cô giáo trẻ toàn là những khung thép lạnh lùng, cột hiên lớp,khung cửa, rui mè..Vào hẳn bên trong,cô phát hiện ra,ngoài hai dãy xây bền chắc kết thành hình chữ L,còn có một dãy gỗ nằm mãi cuối sân,ở phía bên trái,thẳng góc với dãy giữa và song song với dãy ngang, tạo thành một khối chữ U bao bọc khoảng sân vô cùng rộng,và gian bếp tập thể bằng tranh,cột rui bằng gỗ, nên khung cảnh vẫn có nét thôn bản miền đất xa phố xá. Đấy là những công trình mới dựng thêm sau bảy lăm,do thầy cô từ xa đến,trường lớp lại đông thêm . Chàng thanh niên giải thích về xuất xứ tấm băng đrôn “Nhiệt liệt chào mừng đại biểu về dự hội nghị “ :Bọn tôi vừa tổ chức hội nghị, chưa kịp tháo xuống .À ! Anh này là cán bộ trưởng ban xoá nạn mù chữ xã. Cả miền Nam những ngày vào năm 1977 đang nô nức thực hiện chiến dịch Xoá mù ;vùng Đồng Nai này , các giáo sinh trẻ từ trường sư phạm về đây, trước khi nhận nhiệm sở, đều toả ra khắp mọi huyện xã, cô giáo trẻ cũng là một thành viên. Tháng tám mới có lễ tổng kết trên Biên Hoà,sao xã mình .. A, thì xã tôi hoàn thành sớm. Viên cán bộ Bổ túc văn hoá xã hớn hở,tự tin.Bên chỗ cô chắc chưa phải không ? Cô giáo này từ xã Phú Lý kế bên,lắc đầu. Cô này và một cô nữa,kẻ dạy môn Xã hội, người phụ trách môn Tự nhiên, bất ngờ được điều về trường,dù hôm nay là ngay giữa tháng Tư,vì bất ngờ có một cô chuyển ra Bắc,và hai thầy thì có ý định xin thôi việc. Thầy Đ. dạy Văn,thầy Tr dạy Toán,nhà trên miệt cây số 138, cứ sáng đi, chiều về, đôi bữa ở lại. Người thanh niên cán bộ xã thì thầm,mấy ổng xin thôi để . ..đi buôn lậu,mua đậu khoai từ đây về thành phố,rồi lại đưa các thứ khác về đây. Chợt chàng trai trẻ nhìn xa xăm,thì phải thế thôi,chứ con cả bầy,mà lương thì .. Giọng đồng cảm da diết ấy bởi vì chính anh chàng này, độc thân vui tính, nhưng đang vò đầu bứt tai chăm hai đứa em trai mà không có bố mẹ bên cạnh, một học cấp Ba trên huyện,một tuổi cấp một. Quyền huynh thế phụ, lẽ đời vốn gian truân,đòi buộc sự hy sinh rất lớn ở người anh thay cha mẹ . Nhà thầy Hường, nhân vật này có cái tên bố mẹ đặt cho từ một loài hoa rất đẹp và thơm,nhà sát bên Trạm y tế xã,đứng ở mé hiên phía đông nhà trường, tức là trước sân mé phải tính từ cổng lên, cô trò bên này bắt gặp hai ngôi mộ đắp đất thật to, và mấy cây ổi đã quả " cứng thua đá chút đỉnh, khi chín muốn ăn phải dùng dao xén từng lát,chứ không thôi là ..gãy răng, ổi miền đồi mà .."phía sau nhà thầy cán bộ Bổ túc. Đó là nơi an nghỉ đời đời của hai đấng sinh thành. Giếng trường nằm mé trái hai trụ cổng, hơi gần suối, từ đây, men theo vườn mì, rồi qua hàng rào chuối tự nhiên, thì đến hiên sau nhà thầy Cây Ổi . Cô giáo trẻ buổi đầu làm quen với một học sinh có dòng tộc thật lạ so với miền quê cô, họ Thiều, thì ngôi nhà có hai ngôi mộ và vườn ổi lại mang một họ tộc mà mãi về sau,cô cũng ít gặp,họ Cổ Thế. Cậu em út nghịch ngợm không mang tên một loài hoa đẹp như ông anh cả mà là tên một loại thực vật nói chung,hay còn có ý nghĩa gì khi phiên ra từ Hán Việt,bởi người Việt thường đặt tên con đầy trang trọng như thế. Hồi ấy chẳng ai có thì giờ mà giảng giải này nọ. Quả, tên của chú bé học trò ấy, nay cũng hẳn đã năm mươi, có thể là “ chắc chắn” hoặc “ ăn no”. Người em giữa lại có tên Hành, từ Hán Việt nghĩa là “ thân cây” … Thầy Hường có lần vui chuyện giải thích như thế. Dù không thuộc biên chế nhà trường, nhưng vì việc ban ngày ra rẫy, tối về,cơm nước xong, sau khi rảo một vòng quanh các lớp Xoá mù hay Bổ túc trong xã,thì người cán bộ được gọi là Thầy này tạt vào khu nhà tập thể trường,đôi khi chỉ có duy nhất một người, để cùng chơi vài ván cờ. Người giáo viên đơn độc này chính là thầy H., vốn là một kỹ sư xây dựng, vừa tốt nghiệp,được biệt phái sang ngành giáo dục một thời gian.Có mấy người bạn về trường cấp Ba, còn thầy này về nơi này, dạy các môn Tự nhiên cấp Hai. Chắc sang năm đủ thầy cô thì thày ấy về lại Biên Hoà thôi. Thầy Hường tư lự. Cả cấp hai lúc ấy năm lớp,chưa có lớp chín, lớp tám có một, chỉ có ..ba thầy,nên phải tăng cường các cô nữa. Sang năm thêm hai lớp sáu mới, tất cả sẽ là bảy ,tôi nghe phong thanh sẽ có chừng thêm chừng năm thầy cô cấp hai về, vì thầy Hiệu trưởng còn coi ngó luôn trường cấp một dưới chợ La Ngà... Vậy nhà tập thể có còn ai nữa không ? Cô giáo mới dò hỏi ,lúc chủ nhà giúp cô khuân bớt hành lý lên trường. À,có ba cô cấp Một. Cô M,cô Ng, cô này sắp làm dâu xứ này,cô kia mai mốt cũng về phố lấy chồng,vì anh chồng ghé thăm miết thôi. Có cô H thì đang về đẻ em bé. Ba cô này đều người gốc Saigon. Chứ còn lại đều là người địa phương. Mấy chục năm sau ,cô giáo ngày nào gặp lại ông thầy “bông hoa thơm đẹp” thuở nào.Vẫn nụ cười hềnh hệch,giọng như dính vào nhau,mà nghe quen lắm,như giọng Nghệ An quê cô,tui giờ ra đứng lớp rồi. Đám học trò cũ của cô, khoe thay,thầy Hường là Hiệu phó trường cấpMột trên chỗ 110 đó cô.Viên hiệu phó cười ngập ngừng Mình từng đi lính địa phương quân,khó vô Đảng,nên…lên đến Hiệu phó,là được.Mới có vợ gần đây,hai con còn nhỏ. Giờ trở lại con dốc có hai trụ cổng và tấm băng đrôn “ Nhiệt liệt chào mừng đại biểu về dự hội nghị”. Một xã nghèo nhất Huyện,mà lại đi đầu trong một chiến dịch khá quan trọng ngày ấy, diệt giặc dốt. Thì cũng nhờ chú Hai Viên bên chi bộ Xã đôn đốc.Là cái chú .. Phải,ông vui tính vậy đó,chứ khi vô việc thì đâu ra đó.Nhà chú tuốt sau kia, vườn trường đi vô mấy cây số nữa. Chú đã áng chừng ngoài năm mươi,nhưng cô con gái mới độ mười một mười hai,bẽn lẽn,giản dị,giọng nói đặc sệt hồn nhiên vùng chiêm trũng Bắc Bộ.Tên cô bé cũng khó quên,Vũ Thị Lái. Do công việc của một chị phụ trách Đội,ngoài vai trò một cô giáo đứng lớp,rồi chủ nhiệm,nên cô gái này có nhiều lần tìm đến nhà . Người vợ cũng đứng tuổi,vì chiến tranh nên phải thế,ông bố nhẹ cười. Ông bận rộn với bao nhiêu là việc của xã,nhưng với mọi hoạt động của trường,ông luôn quan tâm. Khi cô giáo này được cử đi học, cô và chị phụ trách Đội mới tìm đến ông để chào “ tống cựu nghinh tân”, ông vui vẻ và một câu lảy Kiều của ông khiến hai cô giáo,vùng kinh tế,ngoài hai mươi, rất vui : À thì đây là Cô Loan,Loan đến để Xuân đi. Loan Xuân,Xuân Loan thu cúc mặn mà cả hai . Cách láy đi láy lại vị trí tên hai cô giáo, đã khiến hai cô cảm thấy ai cũng được trân trọng, - và cụm từ "mặn mà " giàu ẩn ý, không chỉ dung nhan,hẳn ông còn mong các cô luôn tận tâm với công việc,với người dân ở đây. Nhưng tự đáy lòng, " mặn mà " mang ý nghĩa ám chỉ dung nhan người phụ nữ, khái niệm dung nhan ngày ấy là điều các cô mặc cảm,nhất là mỗi khi về phố lớn,đi làm giấy tờ, hay ra chợ mua sắm,bắt gặp những ánh mắt có vẻ tội nghiệp,thương hại của người nơi đây dành cho các “ cô giáo rừng”. Dạo ấy,tôi dù mới bén duyên đất phương Nam này chưa lâu,nhưng hơn một năm sống ở nhà thím Toàn, một phu nhân đài các, nên tôi cũng kịp có vài bộ trang phục tinh tươm,thời thượng vào thời điểm đó, sáng sáng lên lớp cũng có một chút phấn son “ sương sương” ( trang điểm nhẹ ) mà mỗi bận về phố lớn vẫn thấy chạnh lòng. Tôi nhớ một chuyện nho nhỏ.Có bận tôi về đây,bố tôi dẫn đi chợ,mua cho mấy túi tôm hấp sẵn, tức là luộc trong nước muối, để chống hỏng, loại tôm hạng ba bốn thôi, tôi đem biếu cô bạn này một túi,độ chừng một cân. Cô đem ra bày vào bếp chung. Bàn ăn có độ chục người,món ăn “cao cấp” này được đánh giá rất cao,bởi nếu tính toán,so với giá rau củ mắm muối ở đây,thì vừa kinh tế mà lại giàu chất bổ dưỡng. Dịp sau một cô giáo khác trong khu nhà tập thể về phố cũng tìm món này mua đem lên trường.Mọi người lại hoan hỉ dùng,nhưng..khi cô dè dặt đề nghị “cùng chung chia” thì ai nấy yên lặng. Rồi có người lên tiếng sau một hồi cân nhắc, ừ thì là rẻ,nhưng thôi, cứ dì Hai ( dì cấp dưỡng) cho ăn gì thì ăn nấy,vì tiền còn để dành về thăm nhà,rồi ai có điều kiện bồi dưỡng thêm thì ..về nhà .. Dù trường nằm ở nơi không có bến xe và không chợ như hầu hết các trường xã khác,thì cứ chiều chiều thứ bảy là ..khu nhà tập thể vắng tanh. Sau này, khi Nông trường mía Phú Ngọc mở ra,cùng với Nhà máy đường La Ngà,nơi này hàng cuối tuần đều có xe đưa công nhân từ đây về tận thành phố, đổ khách xuống bên vùng Khánh Hội,luôn tạo điều kiện cho “ thầy cô bên trường” quá giang, thì việc “thăm nhà “ thuận tiện hơn xưa, tạo điều kiện cho các thầy cô ở thành phố có cảm giác " ăn bát cơm trắng thấy mồm miệng nhẹ tênh "Vì ngoài đũa cơm dẻo thơm còn có miếng thịt kho béo ngậy,con cá tươi chiên dòn,tô canh chua bốc khói.Còn ở đây, Nhưng hai cái nàng “ thu cúc “ thì khác.Kẻ cao nguyên,kẻ tận miền Bắc, họ chỉ về quê vào hè và tết, cô ở vùng ngoài, còn mỏi mòn chờ hè mà thôi. Sống ở nơi khô cằn nắng cháy,sinh hoạt dè xẻn, quán xá thì món cá khô là cao lương mỹ vị nhất, còn lại là những bìa đậu, hũ chao, những hạt đậu phụng rang, và những thứ quả cây nhà lá vườn người dân đưa ra bán, thì mức độ “ mặn mà ..” cũng chỉ là ngôn từ. Cô bạn này kể,mấy chục năm sau gặp lại nhiều học trò cũ, họ phát hiện ra có nhiều “ đứa bạn học “ tuổi tác không thấp hơn bà cô giáo là bao, mà ,có người buột mồm,trời, Bà Tr chỉ thua cô mình có mấy tuổi,mà sao ngó cô..già quá !Cô giáo ngồi sượng trân,nói làm sao,thì có một anh chàng vọt mồm : ư thì như vậy mới là trò,là thầy ! Cô bạn có lúc bất chợt hồi tưởng về những thoáng kỷ niệm đẹp ấy và không khỏi bâng khuâng.
Tôi nhớ lần đầu đi theo bà bạn , khi năm học thứ hai của chúng tôi bắt đầu, độ tháng chín dương lịch 1977, khi ấy cả hai vừa hai chục xuân xanh, ghé chơi để “trước lạ sau quen”. Nhà tập thể là một gian cuối trong dãy phòng năm lớp, dựng theo chiều ngang của sân, một dãy gỗ song song, kết hợp với dãy dài chiều dọc sân, tạo nên hai dãy lớp hình chữ U, cơ ngơi khang trang nhất Huyện này ngày ấy, vì người ta mới cho xây trước ngày kết thúc chiến tranh có vài năm,chứ còn các trường cấp xã khác của Huyện đều cũ , có nơi còn xuống cấp , vì đã trải qua biết bao mùa khói lửa . Chú Toàn trước khi vượt biên có lần hỏi tôi và bà Bé già về vùng “đất mới “ của Huyện này, vì chú rõ lắm,bởi ông từng là một kỹ sư công chánh, từng tháp tùng viên Quốc vụ khanh đặc trách văn hoá Phan Quang Đáng ( tương đương Bộ trưởng ) đi thị sát nơi này từ sau biến cố mùa hè 1972,cho đến khi vùng này,khu hành chính, các khu tập trung dân, được hình thành. Chú kể nhà xây , giếng xây la liệt khắp các thôn, là do công binh Mỹ và Việt hợp tác làm. Cứ khung sắt,cứ táp lô,cứ đốt cống xi măng thả xuống những bộng giếng đào, không dựa vào địa thế,- cho nên giếng ngay Trạm y tế xã mà chạy xuống gần suối như giếng nhà trường hẳn cô bé Huệ nạo chắt được nhiều nước hơn - mà nhằm hướng nhà dân,cứ độ chục nhà thì có một giếng, rồi chia hai vùng,Nam đường,khu từ Quảng Trị đến,Bắc đường, đối diện với trường, dành cho cư dân gốc Quảng Nam. Nhà tập thể nữ trước kia hẳn vốn là khu văn phòng,bởi người ta chia gian buồng làm hai, thông thường bằng một cửa ra vào , nhưng tấm tôn làm cửa chỉ có một nửa, người ngồi trong có thể thấy rõ chân cẳng kẻ đứng bên ngoài, và cánh cửa này có thể mở bằng ..vai, cứ ẩy nhẹ là qua, rồi nó tự khép : trong là nơi làm việc của Ban Giám hiệu,nửa ngoài, là nơi giáo viên gặp gỡ,có thể như vậy. Bây giờ,nửa ngoài là buồng cho hai cô, bên trong có tới năm cô ! Tôi được dẫn vào phòng có ba giường, hai bộ bàn học trò kê lại làm bàn làm việc, rồi kệ để sách vở giáo án,còn tư trang các cô giáo thì đun vào gầm giường. Khách cứ thả dép,phủi chân, vì vừa lội qua hai con dốc đầy bụi đỏ, ngồi lên giường, và được mời ăn khoai mì luộc, chuối chín buồng, đặc sản vùng này, có sẵn ở vườn trường. Qua khung cửa sổ mở rộng, tôi nhìn ra sau , có một vạt đất khá rộng, được lên liếp, rồi bên kia là một dãy nhà tranh, thấp thoáng bóng trẻ con nô đùa,phấp phới những tà áo phơi,nhà dân. Xa nữa là ngọn đồi 110, tức là đứng trên ngọn đồi cách đây hai cây số, thì cũng sẽ thấy..tôi bên cửa sổ đang nhai khoai và chuối. Trường tôi nằm ở thị trấn,từ Đồi 11 0 thả dốc thêm ba cây số nữa . Về sau này,cứ mỗi bận cuốc bộ, mà chủ yếu là phương tiện di chuyển chính, đến đây,thì cô bạn biết hoặc là Huyện lỵ phía bên kia, hoặc là trường cũng rất gần. Tôi chú ý những chiếc lá khá to xuất hiện đều đặn trên từng luống đất. Ồ , đất trường, mà mùa hè có ai đó,hẳn là du kích bên Uỷ Ban xã, vào đây , tranh thủ những ngày mưa, mà trồng bầu bí . Ừ, đất đồi thì thả bầu hay bí là hợp nhất. Bầu thì cần giàn,chứ bí ngô cứ thả là nó bò,mà các cô thầy ở đây lại có đọt,có hoa để ăn,không phải mua rau, bởi rau vùng này hiếm lắm, người ta ăn bắp chuối, măng rừng, rau muống dưới suối,hái đọt khoai mì làm dưa chua,mưa thì có mướp, bầu,bí.. Nhưng khi nghe tôi lên giọng “ cán bộ Phòng “ ( tôi tá túc bên Phòng Giáo dục Huyện ) thì cô bạn cười, chế giễu:
- Đúng là dân cày nhựa đường . Thử lại gần coi là bầu bí hay là ..bì bấu !
Tôi theo cô bạn ra hiên, vòng qua khu nhà bếp bằng tranh,rồi mới ra đến vườn,chứ vèo qua cửa sổ thì nhanh lắm,nhưng các cô máng đầy áo quần bên ngoài để phơi, vì có học trò đến, phơi đồ đoàn phụ nữ ở đó ,dù cô nào cũng ý tứ,không ai bảo ai, choàng qua bên ngoài của chiếc móc phơi một manh áo khô, cho có thẩm mỹ . À,lá rất dày, một mắt xanh,mặt kia xám,đường gân rất to, mà nhựa màu tím dính chặt vào tay.Ồ, phải rồi.Tôi nhớ có lần đi chợ mua dưa chua,thứ dưa muối từ cây bạc hà,mọc ở vùng sình quanh thị trấn, người ta gói bằng thứ lá khá to này, to bằng hai bàn tay,lại dày hơn cả lá chuối, nhựa cũng có màu tím . Tôi đứng thẳng lưng,nhìn quanh. Tại sao lại trồng giẻ tỵ ở đây nhỉ ? Hẳn người ta muốn biến khu đất dành cho học sinh canh tác, làm rừng cổ thụ chăng ?
Thế rồi, qua năm học đó, nơi nào lại được học sinh trường trồng khoai sắn, gây quĩ Đội .
Ấn tượng của tôi về khu rừng của một loại cây ở vùng đất này ngày ấy thật xa lạ với tôi là ngỡ ngàng. Khi đưa tôi về đây nhận công tác, một ngày ngay sau tết Âm lịch, bố tôi rủ tôi:
- Ta đi ngược lên trên này, độ chừng chục cây số nữa, ( vùng xã Phú Lộc,cây số 125 )ngắm rừng cây gỗ tek cho biết.
Chú Trưởng phòng,vốn là người cùng quê ở Hà Tĩnh, khi lên Hà Nội học cũng thường ghé nhà bố chơi, có khi nán lại ăn cơm, nên thân thiết lắm.Ông này kêu:
- Ôi chán lắm, đang mùa nắng khô, cả rừng trụi lá, trơ cành, thông thốc, toàn bụi đỏ,chứ có gì mà ngắm.Thật đúng như vậy. Cả một vạt rừng hun hút,dài đến vài cây số, chạy suốt ven quốc lộ,chỉ có một màu xám khô của cây chết.Lá cong lại, rơi đầy nền đất cứng, thân không to lắm, cao vút chĩa ra vô số cành xương xẩu, gió thổi qua không buồn lay động. Chúng tôi từ đường nhựa, nhảy qua một con mương nhỏ, cỏ dại xác xơ dưới cái nóng hầm hập của miền đông đất đỏ mùa khô, là chạm vào mé bìa rừng. Tôi chả buồn ngắm nghía, trong khi bố tôi cứ đưa tay sờ nắn tấm thân cao lòng khòng của loài “ cây chết” này,suýt soa:
- Thứ gỗ này con có biết người ta dùng làm gì không ?Này, cao đẳng về Địa lý mà không biết thì quá dở nhé.
Qua những người dân ở đây,tôi mới biết đây là rừng gỗ dùng làm báng súng.Khu rừng này được trồng từ thời bà Ngô Đình Nhu, em dâu ông Ngô Đình Điệm,tổng thống miền Nam ngày ấy.
Bận rộn với công việc nên tôi không có dịp đi qua đây.Mùa hè,Huyện tổ chức cho giáo viên học chính trị tập trung ở miệt trên, ngay cây số 138, từ nơi tôi công tác, thị trấn, và cô bạn ,ngôi trường mang nhiều ký ức quê cũ của cô nàng, đều đi qua khu rừng này.Thật ngỡ ngàng. Cả một màu xanh mỡ màng, dịu mát đập vào mắt.Vô vàn những chiếc lá rất to, gấp năm bảy lần chiếc lá mít, lá đa, mà ở quê tôi,bọn trẻ con vẫn hái để biến thành hình những con trâu, nghiêng nghiêng bám đầy kín những cành còng queo hôm nào. Trong đầu tôi lại hiện lên hình ảnh một đàn trâu có thân nằm dọc,lá to, và đầu nằm ngang, lá nhỏ hơn, màu xanh bóng nhẫy, bốn chân và sừng là những cọng tre chẻ nhỏ như tăm, cọng rơm khô ,và bên tai văng vẳng bài hát “ Trâu lá đa “.
Lá đa rụng,bên bờ ao,em biến chúng, thành đàn trâu.Trâu lá đa,bé tí tẹo,cuống sỏ sẹo, sợi rơm mùa . Que bắc vai, trâu đủng đỉnh, đầu đung đưa,hai tay vểnh .
. Giọng bây giờ cao lên,đầy hứng khỏi của chú bé đưa trâu đi cày một nơi đầy cỏ may : Cỏ may dầy chớ rối mắt. Tiếng cậu bé thúc giục con trâu cất bước : Sang lối này! Vắt ! Vắt ! Vắt !
Một bài hát từ những câu thơ chỉ có ba từ,mà cả một “thế giới trâu cày” rùng rùng hiện ra.
Lớp lá khô rơi phủ mặt đất đã mục đi,tạo thành một thứ phân bón tự nhiên. Cứ xanh lá vào tiết mưa,khô cong rồi chết khi gặp nắng hạn,và lại xanh lá .. Cây nhờ thế mà vững chãi,bền bỉ,kiên gan cùng tuế nguyệt. Có dịp gặp lại Bố tôi,tôi đem chân lý này ra kể lể,thì ông cũng trầm ngâm: Phải ,kiếp người cũng thế.Có vinh,có nhục, có thăng rồi giáng,có xuống rồi lên, thì cuộc đời mới ý nghĩa .

Bây giờ,tôi muốn đem điều này để an ủi bà bạn, một người chỉ biết sống vì người khác, và bây giờ thì lại bị chính những con người ấy quay lưng. Tôi hiểu nhiều người thân thích trong nhà mải mê đi tìm kiếm điều mà thời tuổi trẻ bà này hăm hở.Hẳn nhiên họ đã đặt lên bàn cân,đâu là công danh, tiền tài, đâu là nỗi niềm của một bà lão mà với họ, cứ như một vị khách qua đường . Cây khô rồi xanh lá, xanh rồi lại khô, và khi không thể xanh trở lại,thì lúc đó tấm thân còm cõi lại được tận dụng cho một việc quan trọng khác lớn lao hơn,vì nghĩa lớn .
Thế nhưng, một nơi xa lạ mà lại rất gần. Người bạn kể ,lúc lẽo đẽo vác chiếu, xách chậu và hành lý,cùng đi theo viên cán bộ Bổ túc văn hoá xã, tìm đường lên đường, cứ ngỡ là trở về tuổi ấu thơ, đi học ở trường Trung Bắc trong thôn. Vì trường cũng nằm trên đồi cao,từ đường cái quan đi vào cũng qua hai ngọn đồi, qua suối,qua những vạt nương trồng rau củ,có mùa trồng khoai bắp .. Quê hương nơi xa ấy bỗng trở về thật gần . Và bởi giọng Quảng Trị của người cán bộ Bổ túc văn hoá này có âm hưởng không xa lạ với giọng Nghệ An của quê cô .Vì vậy mà bốn năm ròng,bao kẻ đến người đi từ mùa xuân 1977 ấy, cô giáo kia vẫn cứ bám lấy. Vì một giọng nói cũng dầy âm sắc vùng biển Bắc Bộ cứ luôn vẳng bên tai :khó khăn đấy, nhưng có một người trên cao kia luôn theo dõi và nâng bước chúng ta . Ông bố đỡ đầu Minh Tiến từng là một Linh Mục Tuyên uý của một sư đoàn bộ binh gần nơi này. Người em của ông cũng từng làm Phó Quận Trưởng quận Long Khánh, ngày đó trung tâm quận là vùng Cây số 138 hôm nay, và một người con tinh thần của ông linh mục luôn nghiêm khắc như một ông giáo dạy Toán, ở trường cấp Ba, mà Hoa Tre và Bà Bé già gọi là Anh Chuột Đen cũng thường xuyên ghé nơi này,dù khi đó viên Phó Quận chưa tốt nghiệp chức Đốc Sự. Thế nên đây là nơi mà có nhiều con người "xin nhận làm quê hương, dẫu cho khó thương " .Có hai cô đã gắn bó với vùng thiếu nước, thừa củi và đàn trâu lá đa cũng ngày ngày rùng rùng đi qua, cô Ng. Và cô L., làm dâu,lập làng, sinh con đẻ cháu ở đây. Tôi đùa, cứ lưu luyến vì vừa đến đã có bao nhiêu người nghênh đón, cô bé đi chắt nước,ông Bí thư Chi Bộ Xã, ông cán bộ Bổ túc văn hoá,rồi ... cổng trường còn ..Nhiệt liệt chào mừng nữa..Chứ tớ thì chả có ai . Nhất cậu rồi,đòi gì nữa .
Hôm nay hai chúng tôi , Bà Bé già và tôi, đi thăm một người bạn cũ đang chăm cháu bị ốm ở bệnh viện. Ra cổng,lại gặp một chị bạn khác,cũng từ khu thăm bệnh ra.Chị vừa dựng được một cơ ngơi sau bao nhiêu năm làm lụng nhọc nhằn.Nhà có lầu,một mở cửa hàng tiện lợi như shop của Bà Thanh và tôi,bên kia thì cho người ta thuê, bán đồ điện nước,nông cụ.. Khu trệt gồm buồng ngủ của ba chị em, người chị đã bảy nhăm,hai cậu em cũng ngót ngũ tuần,bị tâm thần nhẹ, và nhà bếp.. Nhưng chủ lại ngỏ ý muốn thuê luôn một phòng trệt để làm kho,vì hàng điện máy khá cồng kềnh,bề bộn.Thế là nhà bây giờ chỉ có hai phòng, trên buôn bán,một bàn thờ nhỏ,dưới thì nghỉ ngơikiêm chỗ bếp núc luôn.Ồ ăn nhiều chứ ở thì bao nhiêu. Ai cũng bảo vậy khi kéo đến ngắm nghía cơ ngơi của chị . Chị mừng vì vay tiền làm được ngần ấy gian, thòi ra một nửa ngôi nhà cũ, bán đi vừa đủ trả nợ,còn dư thì mở gian hàng,rồi người ta tìm đến,ký gửi,mình bán lấy lãi.. Dù sao cũng đỡ vất vả,thiếu thốn so với dạo cứ thấp thỏm rắng tuổi mỗi ngày một cao mà không biết đến bao giờ mới … giã từ cuốc liềm , gồng gánh ! Tôi thắc mắc,sao không bán nửa ấy trước rồi làm nhà sau, thì chị thở ra : Hai cậu em đâu có chịu.Do trước đây nhà dài lắm,như một dãy trường học,bởi nhà ven chân đồi, ông bố thấy đẻ lắm con, mà mình có nghề mộc,nên cứ cuốc đồi,rồi kéo dài nhà ra, ước mong mai kia các cậu cứ cưới vợ về, là có nhà ..Kiểu nhà dài của người dân tộc.Ừ,mà rồi ông mất bị mắc bệnh hiểm nghèo , thế là mấy chàng con cứ mỗi kẻ cưới vợ, lại cắt một khúc đất bán đi,theo nàng về dinh mới . Bốn người cùng cắt, thành ra còn ngôi nhà bây giờ ...Hai đứa em út bị chứng “học chậm”từ thuở hết lớp năm,chúng nó bị ám ảnh khi có người lạ kéo đến đo đạc, rồi hôm sau thì gạch đá đổ ầm ầm, và mấy cây bơ sau nhà bị đốn tận gốc, nên hễ thấy ai cầm thước đến là rượt cho khách bỏ chạy. Cứ người này mách người kia, nên riết rồi không ai dám tìm đến.Hai đứa em đuổi khách vì chúng nó còn lo người ta có ý đồ đốn hai cây xoài sau hiên bếp, người chị cười mếu máo . Một cô em gái lấy chồng miền Tây, trồng để kỷ niệm.Cứ nghĩ đất cao nguyên giá lạnh này .. vậy mà trái lúc lỉu .Quả to,chín thì vẫn mơ mơ vàng, ăn ngọt thanh thanh, không thể sánh với các loại xoài “có thương hiệu”, bán không có giá cao, nhưng người ta vẫn hỏi mua vì bày lên bàn thờ rất đẹp.Một mùa như thế cũng kiếm vài tạ, mà có quả quanh năm.Ồ,hay quá ! Trong hội tu “bụi đời “của chúng tôi suốt mười lăm năm qua, từ 1996 đến cuối 2012,thì chị chủ nhà mới này lớn tuổi nhất, gia cảnh bi thảm nhất, và ông bố đỡ đầu là Linh mục Minh Tiến lại quan tâm nhiều nhất. Vì chị ấy còn đèo theo hai “vệ sĩ” mà với chị, là những Giê-su áo trắng.- Vậy khi dỡ nhà cũ để xây nhà mới hai bạn ấy thế nào,không phản ứng à?Tớ phải đi thuê trọ một tháng, hai anh chàng lần đầu tiên trong đời được..leo lên lầu nhà gạch thì sướng mê tơi, vì tớ bảo, bây giờ thì chúng mình ở đây, dông bão không sợ dột, sương gió không ngại rét.
Ồ có nhà mới, lên chức chủ cửa hàng,có nhà cho thuê nữa, thảo nào..
Hiếm khi chị được thong dong thế này . Ôi,có đâu !Bà cụ thông gia nằm viện,mai xuất viện rồi, tớ mới ghé thăm được ,thật may.
Chờ nhau dắt xe ra đường,chị bỗng rủ rê :
- Rảnh thì về nhà tớ nấu món gì ăn nhé .Tớ có nhà mới mà chưa hề tân gia gì cả !
Chúng tôi hưởng ứng ngay : Không tân ..da,mà là tân ..thịt hoặc cá,bún !
Ừ,hai cậu em khoái món bún cá,mà tớ bận quá,bữa nay mới rảnh một tí. Những năm tháng tu hội chúng tôi còn sinh hoạt chung,mỗi bận Linh mục Minh Tiến từ Pháp sang, đều chọn nhà chị để gặp gỡ từng người, giúp giải quyết thấu đáo mọi “ nan đề “ của từng chị- mà bọn độc thân khó tính của chúng tôi hồi ấy cũng lắm nan đề vô vùng - rồi tổ chức chiêu đãi một vài bữa. Chúng tôi hiểu,ông còn muốn báo đáp hai vệ sĩ của chị chủ nhà . Nhà chị thật đơn sơ, chỉ có bộ bàn ghế xưa,một chiếc bàn nhỏ,bốn chiếc ghế, khách cứ trải chiếu ra ngồi .Ngôi nhà gỗ cũ kỹ, cửa đóng triền miên,nên góc nào cũng có mùi ẩm mốc . Nhưng khách không nề hà . Hai cậu em thích món cá,nên thực đơn chung cho bữa tiệc họp mặt là cháo cá, rồi bún cá,hoặc cá cuốn bánh tráng rau sống , về sau có thêm món lẩu cá nữa . Chủ nhà mưu sinh bằng nghề vác cuốc liềm đi dọn cỏ thuê cho các chủ vườn,kiêm nghề đan áo len thuê.Mấy năm gần đây,chị đổi qua đội trồng rau hoa trong nhà lưới,đến vụ thì đi cắt hoa,đóng hoa. Có mùa ba chị em xuống các huyện,nơi những người anh,các cô em lập nghiệp,đi hái cà phê thuê.Hai cậu em cũng từng đi cuốc đất cho chủ trồng rau, đi thu hoạch và gánh rau thuê, tức di chuyển rau từ vườn ra bãi tập kết để bốc lên xe,nay thì có nghề đi nhặt rau,tỉa rau củ cho các quán ăn,đi rửa chén bát,có lúc đi rửa xe thuê,tết đến thì đi sơn hàng rào, hay dọn dẹp nhà cửa cho khách cần. Bố đi về mãi miền xa xăm ,bà mẹ giao các em cho chị lớn coi ngó,bà phải ra phố giúp việc. Hai ông bà chủ là những người coi ngó cả chợ cá đưa từ vùng biển Phan Rang, Phan Thiết lên nên hàng ngày sân chủ không thể nào thiếu hàng giỏ,hàng thùng cá xếp chờ chuyển đi. Bà mẹ làm bếp nên chọn những mớ thuộc diện “ phân loại” chế biến thành nhiều món, tuỳ loại cá, kho keo, chà bông,hay chả… nên từ bé hai đứa trẻ suýt soát tuổi nhau này vào ra là có sẵn cá các món,lâu dần khiến mấy chị em có khi quên việc cần phải đổi món,mà cũng vì tiết kiệm. Công việc chân tay, gần cỏ cây hoa lá,nên tâm hồn họ thanh thản,lặng lẽ đón nhận mọi vui buồn . Bây giờ có hàng quán,thì cuộc sống hẳn có thêm chút sinh khí . Chúng tôi hỏi đùa,giờ thì “ giã từ cuốc liềm gồng gánh “ thôi nhé. Chị chủ nhà cười nhè nhẹ. Bà bạn vui vẻ :tớ có Đu Đủ bên cạnh,nay có Xoài ngon ,thế là mong không chỉ tết mà ngày nào cũng “ chẳng giàu thì ít nghèo,ba mươi tết có thịt treo trong nhà”. Đủ- Xài là được !
Hôm ấy đã gần cuối năm dương lịch ,tôi chợt nhớ ra:
- Hình như nhà chị có tiêu chuẩn được tặng quà tết tây của chính phủ đó!
Chị ngỡ ngàng: Thì mỗi tháng..
- Không, đây là quà tết mà .
Bà bạn chen vào :
- Trên đường đi, ta tạt vào Uỷ ban hỏi thử xem.
Bà này rất ấn tượng về những kỷ niệm đẹp ở đây.Dạo được nhận tiền Lễ Quốc Khánh,bà này bỏ lỡ,tìm đến Phường thì được đón tiếp rất tử tế.Một cán bộ Trưởng phòng văn hoá Phường còn gọi lại hỏi han sau khi bà cụ đã được trao quà và ra về. Chả là lúc loay hoay tìm đầu mối để liên lạc trên mạng, thì được cán bộ Phường giới thiệu đến viên Trưởng phòng này. Bà cụ kể,bạn ấy hỏi tớ đã nhận được tiền chưa, đến và đi thế nào,có cần thì các bạn bên Phường sẽ hỗ trợ. Hai từ này ( hỗ trợ ) tớ chỉ nghe khi ..mua hàng online.Vì có qua có lại,chứ đằng này,kẻ đòi hỏi là tớ. Vì vậy mà bà cụ,vốn ít được quan tâm,thấy bồi hồi.Bà kể có lần đám học sinh cũ ở Đồng Nai -cái trường Phú Quảng chào mừng đại biểu ấy..ghé thăm,mời cô giáo cũ đi liên hoan với họ.Tối khuya họ đón xe cho bà lão về một mình.Khi bà này vừa vào nhà,thì anh lớp trưởng Thiều Quang Lâm điện đến,nhẹ nhàng mà chân tình,hỏi cô đã về đến nơi chưa,có gặp trục trặc gì không ?Bà lão bần thần . Tôi đùa,thì bởi ngay lúc vừa đặt chân ướt chân ráo đến, đã được ..cổng trường ..nhiệt liệt chào mừng rồi . Vì bà nhớ có mỗi một người trước đó cũng từng gọi điện thăm chừng,khi bà rời buổi liên hoan ở nhà chị Cây Xoài này, về nhà.Nhóm mười mấy chị, có người sắm xe gắn máy vì công việc,sau buổi gặp gỡ thì họ còn đi công chuyện,bà kia cứ thong dong đến và về bằng con ngựa sắt cà rịch cà tàng của mình,hẳn vậy mà ông bố già lo lắng, quan tâm.Nhưng cũng khiến đứa con giàu cảm xúc bồi hồi . Bây giờ Khang,cán bộ Phường lại hỏi han ,thì bà già xúc động, không có gì lạ . Nhưng tôi trân trọng.Tôi giành lấy việc “ đi hỏi quà”cho chị Cây Xoài. Ở khu tiếp dân một ngày trong tuần khá vắng vẻ, chỉ có vài người làm khai sinh, tôi trờ đến quầy có một cô gái nom rất trẻ.Vừa lúc ấy lại có một người đàn ông trạc ngũ tuần, ra vẻ như cán bộ ở đây, bảo cô gái :
- Con in văn bản ra cho cô này .
Bởi tôi xưng tôi là giáo viên của Phường,đã nghỉ hưu, đi hỏi hộ diện được quà tết.Và lúc cô kia loay hoay in,bôi những chi tiết cần thiết,tôi xin số điện thoại của cô, khoe thêm tôi từng được Anh Khang ở đây giúp đỡ nhiệt tình. Tôi còn tò mò, anh ấy bao nhiêu tuổi,có mấy cháu rồi.Ồ,bốn mươi, hai con, tuổi đã chững chạc nên sống tình cảm thế đấy.
Sau buổi “ tân cá “chúng tôi ra về.Bà già này đã lần mò vào nhà dưỡng lão, chỉ vì tai ù đặc, mắt thì mờ mịt, rồi lại bò về ,vì nơi này quá nóng ,dù đang vào đông, và cái chứng khó ăn khó ở của bà già, nhưng lại phải vào ở nhờ nhà má con Vân Thanh ít lâu, chờ tìm được một "cộng sự " . Vừa thả bà kia vào trong sân,thì có tiếng chuông điện thoại.Chị Cây Xoài gọi lên, sao rồi,an toàn chứ.Chả là có chút rượu dâu.Một hớp ngọt như xiro thôi mà . Tôi đùa, chị học ông bố Minh Tiến bao giờ thế ? Chị kia ngạc nhiên:ối, đấy là lẽ tự nhiên,em à !
Vâng,tự nhiên.Nhưng để thực hiện bằng cả con tim thì không hề tự nhiên bao giờ !
Tôi muốn an ủi bà bạn,dù có bao nhiêu người gần mà vẫn xa, thì vẫn có bên cạnh mình biết bao kẻ xa mà vẫn rất gần,nên hãy cứ lạc quan mà sống nhé .
GIANG ĐU ĐỦ.
( Dalat ngày 12.1.26)
.