Thursday, April 30, 2026

NGÀY HOÀ BÌNH

  Kính dâng hương hồn chú  Võ Hoa và các liệt sĩ ở Côn Đảo.

 Viết  để cám ơn Thầy NVL.

Đối với   những  người dân  Dalat  buổi ấy,ngày  Ba tháng Tư năm 1975  là  ngày hoà  bình .

 Dalat  những năm trước  bảy lăm  là thành phố  đầy lính tráng,mỗi chủ nhật  bóng dáng  những chàng sinh viên sĩ quan  của hai trường  quân sự và chiến tranh chính trị  lớn nhất miền Nam   lại xuất hiện khắp đường phố.Họ bảnh bao trong những  bộ lễ phục trang trọng màu cà phê sữa ,mũ kê pi, áo   may  kiểu veston,cầu vai tua đỏ  và đen, cứ nhìn  để phân biệt  đâu là các  vị “   tránh vợ bé quyết  giữ vợ nhà” ( Trường Võ bị  quốc gia  Việt Nam) và “ cho tôi chút tình “ ( chiến tranh chính trị),nhưng từ sáng  23 tháng Tư năm ấy, hai má  dẫn tôi đi sắm  một bộ đồ đẹp,trước đó  bọc lên khu phố có nhiều tiệm vàng,- đường Thành Thái,con đường  dịp  ngày đầu năm tôi mới đến, vì tôi lỡ quên chiếc nón mới  tại bảo sanh viện Phan Lạc Giảng,mé  Hàm Nghi, nay là  đường  Nguyễn Văn Trỗi, mà cả hai đứa, tôi và chị Bé  chạy như ma đuổi, chạy từ rạp  xi nê  Ngọc Lan cuối đường  cho đến    giáp đầu Hàm  Nghi, giờ  già lão, bước bộ qua thấy sao mà  xa, hồi đó chân cẳng con nít chạy thiệt là  khoẻ- sắm một chỉ vàng,  kết quả của nhiều tháng ngày làm lụng  vất vả của hai má.Khi trở về,đi lên con dốc   trước rạp  Hoà  Bình, nhìn xuống khu nhà kính mé cổng chợ, nay là  đầu đường Lê Đại Hành, từ sau  khách sạn Mộng Đẹp,   có dạo tên là  Mô- đéc,  nhưng chính phủ thấy  có chút hướng ngoại nên bắt đổi lại-  Chú Đa ( tên chú Võ Hoa ngày ấy ) có  một cảnh  chụp trước  nhà hàng Queen Bee ở  Saigon,  rồi lại một cảnh cũng đứng y chang chỗ cũ, mà bảng đã đổi ra là  Quên Đi. Tôi  nhìn hai ảnh, thắc mắc, thì chú bảo :  đổi cho ra cái kêu của  người Việt mình mà - nhìn qua bên kia đường,  mọi khi  giờ xế chiều luôn có mấy chiếc  GMC  bít bùng đón những chàng sinh viên  tập trung về lại quân trường sau một  ngày bát phố,thì  bốn bề chỉ có   khoảng không  tĩnh lặng, xa  xa là làn nước  Hồ Xuân Hương lăn tăn gợn sóng  . Chỉ có những đám cỏ vàng cắt sát gốc lơ phơ trong  gió làn gió lành lạnh  của chiều phố núi.  Má Mười  buột mồm:

- Ủa, bữa nay có phải chủ nhật không, mà thấy chỗ đó trống trơn .

 Má Tư  cũng lặng lẽ nhìn,  thái độ của má cũng có vẻ đồng tình. Sau đó ba má con  tìm  đến bến xe Lam  ở  đầu đường Hàm Nghi, là những hành khách cuối của chuyến xe chiều .

 Không ngờ đó là  những hình ảnh báo hiệu một thành phố yên tĩnh chờ  giông bão. Bởi từ sau đó,  lớp lớp cư dân phố thị êm đềm này, có  rất nhiều đứa là bạn học của tôi,  bố mẹ chúng là chủ nhân những  hiệu buôn , sạp hàng,hoặc công chức,nhân viên các   trường quân sự, ùn ùn  thuê xe chạy  đi “ lánh nạn”, rồi cao điểm, ngày  cuối tháng ba, đầu tháng  tư năm ấy,  hai trường  đào tạo sĩ quan  lớn cũng rút quân  về Saigon. Họ  đi theo đường  quốc lộ   27  thay vì  quốc lộ  20,náo loạn  cư dân  vùng Trại Mát, Cầu Đất ngày ấy, để ra Phan Rang,Phan Thiết,rồi mới  vòng  đến Long Thành , gần Saigon.

 Và ngày  Ba tháng Tư,bóng dáng  những chiếc áo xanh màu cỏ,chiếc mũ cối,chiếc  súng AK đeo vai, đôi dép  râu.. xuất hiện.

  Ngôi nhà tôi trọ  ngày ấy  nằm    đối diện chênh chếch với  trụ sở ấp,  trên hai vạt đồi  , ở giữa là con đường làng  rải đá mấp mô, nay có tên  hẳn hoi, đường Trần Khánh Dư. Cả hai vạt đồi lớn,mà chỉ có  hai ngôi nhà. Trụ sở,gọi là thế, nhưng nhìn thoáng thì cũng không lớn hơn  ngôi nhà mấy má con chúng tôi được Chú   Hoa mai mối cho ở,  kiểu nhà mái bằng,mà ngày ấy  gọi là “nhà kiểu Mỹ ”, ngôi nhà  chỉ bằng  một  lớp  học,  hiên   chỉ là một  ô vuông,  xây cao lên  ngay cửa lớn,có  chống chữ   V  giữ tấm  mái xe nắng, bởi vì  người nông dân ngày ấy  chê vùng đồi xa  nguồn nước, đất khô cằn, không canh tác thứ  gì,có  những vạt cỏ lớn,  đến độ  một ông cụ mãi bên ấp kế bên, khu Đa Thiện, cứ hàng ngày xua cả đàn dê hàng trăm con  đến   chăn dắt,   tôi thường ra đây nhặt phân dê  về   ủ với phân  heo nhà mình ,lấy phân trồng  rau hoa quanh nhà,  và ông cụ đó chết danh với tên “ Ông già Dê”,tức là ông cụ chăn dê,chứ ông  đã ngoài  sáu mươi, goá vợ, có  các con đều ở  riêng, và rất  hiền lành . Vì  nhà  gần nơi công quyền,nên khi chính quyền  cách mạng về, gọi là Uỷ ban quân  quản,thì  bỗng có nhiều  người tìm đến nhà tôi.Trụ sở   ấp    chỉ dựng lên để  nơi  người dân  đến  nhận tiền  vay  quĩ Nông Tín,hay  tập trung bọn trẻ con đi  chích ngừa  dịch tả,   hay trồng đậu ngừa dịch hạch (   gọi là  “ trồng đậu” vì tôi  nhớ, cứ  vạch tay áo lên, viên y  sĩ  sẽ  cầm một cái ngòi giống y ngòi viết mực,có hình nhòn nhọn như lá tre, gọi là  ngòi lá  tre, chấm  vào một lọ  thuốc, rồi  vạch lên da  sát vai  ba  vạch. Về nhà  thoạt nghe đau,rồi ngứa, khi  lớp da  bỗng  bung mủ,có đứa thì sưng, rồi  sau đó  để lại một vết sẹo  nom  chẳng khác gì  hạt đậu ngự, nên gọi “ trồng đậu” là thế -tức là   vết  trồng thành công, đứa bé không bị mắc chứng đậu mùa,có khi mặt đầy rỗ chằng chịt, mà rất nhiều  người từng bị  )  thế thôi,  vì  vùng ấp Nghệ Tĩnh  nhà tôi  sống ngày ấy chỉ có   tám chục hộ  dân, hồi ấy gọi là “ gia đình “, nếu cứ tính  trung bình mỗi hộ   bảy nhân khẩu, vì  nhà nào cũng  đông con,thì  cư dân chỉ   trên dưới  năm trăm, nên các hoạt  động khác,  như  đi  bầu cử, hoặc  cấp trên gặp dân,thì kéo nhau lên “khu phố’  nay nằm ở Uỷ ban Phường Tám,và chị Bé bảo,bây giờ là  Trụ Sở của Mặt trận Phường Lâm   Viên, tỉnh Lâm Đồng . Trụ sở là một  ngôi nhà  dường như trống trơn. Người ta  mượn ở nhà tôi  chổi,khăn lau  cho sạch bụi, rồi  cả ly tách ,ấm nước,  rồi   nhờ hai má và cả tôi đi  khiêng bàn ghế từ nơi khác về.. Nhưng  gian nhà  nhỏ bỗng chật chội khi  những món đồ đạc mà cư dân trong ấp  “ bốc vác”từ những  ngôi nhà trên khu phố  giàu đường Phù Đổng Thiên Vương  được thu hồi, tập trung về đây, bàn ghế  giường tủ,  xe đạp, sách báo… có cả  mấy chục  chú heo con từ trại chăn nuôi của một viên trưởng ty cảnh sát, đối diện ngay với   tháp  chuông viện Đại học, cách nhau   đường Phú  Đổng,  mà  người dân buộc đem trả,cũng gửi   vô  gian chuồng bé tẹo nhà tôi, vì ở đây có  người  cho  ăn uống hằng  ngày ( heo Dalat từ lúc  lọt lòng được lau bằng   khăn sạch,cho đến khi hoá kiếp thì chả đòi được tắm rửa,vì tắm thì chúng nó.. đổ  bịnh ! ). Hai má tôi,  so với các  cô  dì cùng tuổi trong ấp, suýt   soát ba mươi ngày ấy, thì  biết đọc biết viết,lại rảnh tay rảnh chân việc nhà,bởi chỉ có mỗi tôi là “ con  lạch chạch”( cái đứa  lẹ tay lẹ chân lẹ mắt,lắm mồm  lắm miệng )nên lại được giao cho việc “ ghi sổ sách, coi ngó” các món ấy. Ba má con bỗng thấy mình bận rộn vô cùng .Một   niềm vui rộn ràng là  đi  họp, gặp gỡ nhiều  người, gần như từ sáng đến tối. Tôi nhanh chóng có tên trong đội thiếu niên ấp, mà chị Bé làm phụ trách. Hai đứa tôi bíu lấy nhau,nhảy cà tưng, cứ như là  đã lâu chưa hề gặp lại,chứ có  ai biết tối nào tôi cũng ôm  gối xuống  nhà ngủ chung với chị ấy,  vì bà này đang học  lớp  Mười Hai,chuẩn bị thi tú tài IBM, tức là thi toàn kiểu ABC khoanh,  rồi bỗng dừng,nên dù sao cũng lo lo , cả ngày hội họp  tối còn hát xướng,nhưng khuya về lại chong đèn ôn bài,tôi đến ngủ cho ấm ! Những lúc cùng rúc  trong chăn,   nhưng cả hai  vẫn thấp thỏm có  người đến gõ cửa, hỏi thăm : hai cái con lạch chạch, giờ này mà đã đi ngủ rồi hả ? Dù trước đó gần hai năm chúng tôi   được ông  Tiến chủ trại cưa trên vùng Cầu Số Mười,đường lên Lạc Dương,nghẹn ngào bảo : chú ấy..  ở ngoài Côn Đảo.. Chỉ mong mai kia hoà bình ra ..thăm mộ ! Và lần đầu tiên   tôi sững sờ vì  bắt gặp một người đàn ông da dẻ luôn đỏ ửng như một ông tây,  ria mép  hài hước, to khoẻ,thế mà hai tay bưng mặt khóc  rưng rức: không có chú ấy, thì cả nhà tôi   giờ này đều  vô Chí Hoà cả…

 Chị Bé được cử đi học lớp tập huấn cán bộ phụ trách Đội.  Người giới thiệu “ chức vụ “ này cho  chú Sằng, gọi là  trưởng ban quân quản ấp ngày ấy là ..tôi, thứ đến là  Hai má tôi.Vì tôi nghĩ, đi   tập trung bọn con nít thì cần biết  chiều chuộng tụi nó,rồi biết hát hò, biết thổi còi đánh morse,   biết tổ chức các trò chơi lớn …mà chị này từng  tham gia phong trào Hướng Đạo, nên hợp lắm. Hồi ấy thanh niên cả ấp cùng tuổi đều có  mặt trong đội văn nghệ, rồi  họp hội thanh niên,mà bà  chị tôi nhút nhát cứ bám lấy tôi, nên  nghe chức này thì nhận ngay.Học bên trường Yersin,hồi ấy có  tên là  Trung tâm giáo dục Hùng Vương, cũng chỉ dành cho  diện con ông cháu cha . Chị đón ngày  Thống Nhất Đất Nước   30.4  trong trường tập huấn ấy.  Buổi về nhà,  lời đầu tiên  thì thầm chị gặp tôi, khi tôi ôm gối xuống ngủ cùng chị ,là : có chú bộ đội nào  tìm ..hai đứa mình không ?

 Tôi  ngơ ngác lắc đầu,rồi cười toe : Có một chú, mà chú này hỏi thăm chị T. Chú ấy muốn tán chị T. Nhưng chị ấy lại ..hình như có ai rồi í !Chị T là chị gái lớn  trong nhà.

Chị Bé  ngồi sững  người, rồi thất vọng  quay đi, sau khi  chán chường  bảo : Nói chuyện với mày ..thôi tao không nói nữa !

   Đến mấy năm sau, khi  cùng đi thi đại học ,tôi mới hiểu “ chú bộ đội tìm hai đứa mình “ là ai .  Chị tôi luôn nhớ mong, chờ đợi, dù  hẳn   dáng vẻ của ông Tiến trại cưa hôm nào khiến chị bàng hoàng và thổn thức nhiều đêm. Vâng,chả ai trách chị  sao cứ hy vọng. Hồi ấy  dù  bận ngày bận đêm, chị  vẫn dành thời  gian dịch cuốn “The Islands of  Greek”  toàn bằng tiếng Anh,một  cuốn  tạp văn về nước Hy Lạp.Lý do là ,chị bảo, chú ấy hồi xưa mơ ước được có dịp ghé nơi này, thăm một cái  ông  nhà tu ở một mình trên hoang đảo, và xứ này  có ngàn hòn đảo, với biết bao    nhiều truyền thuyết  hay  lắm.   Tôi bảo tôi có công tra từ điển,lục tìm   cuốn sách Grammar  English của tác giả Trần Văn Điền để cắt  nghĩa vì sao tác giả lại dùng kiểu câu này, nó có ý nghĩa  gì .. giúp chị dịch cho nhanh, thì cần ghi tên cả  tôi nữa,khi làm món quà tặng “ chú bộ đội  ấy”.  Ngày ấy bọn tôi chẳng hề đi học thêm,môn Tiếng Anh  cũng không thể  ra tận phố,học ở  Hội Việt Mỹ,vì đi  đêm bất tiện vô cùng,nên  tất cả các môn đều tự học , người thầy là  sách, nguồn tri  thức vô tận,  và  một vài  người bạn. Chị Bé có chị  Vĩnh Tiến, cô cái  gái út ông Tiến trại cưa, và hẳn nhiên là tôi !

 Tôi vô tư tham gia đội văn nghệ   thiếu nhi của ấp. Tôi là đứa trẻ lai, hay nói theo kiểu “ nướng bánh mì “ của chị Giang sau này  thì tôi là ổ bánh mì  bị nướng dở chừng,chín mà còn trắng từ  ngoài   vô trong. Hai má  nhặt được tôi ở   nhà ga Gia - rây, Xuân Lộc, Long Khánh,một buổi đi  làm rẫy về. Hai má khen , hồi nhỏ tôi “coi  ngộ lắm,  cứ như con  búp bê vậy”. Rồi tôi theo họ  đến một đồn điền cao su, hai má làm công nhân cạo mủ, rảnh thì may vá  cho người ta, vì dạo ở  trong trại mồ côi, họ được học nghề này ngoài các lớp văn hoá. Và  khi tôi bảy tuổi thì dọn lên ấp này. Tuổi  đẻ thì tôi cầm tinh con cọp. Ai cũng xót xa vì tôi không có cha, không có mẹ  ruột, lại bị liệt một tay do di chứng sốt tê liệt, và lo lắng cho cái số “con cọp” của  tôi: cao số,khó lấy chồng, khó làm ăn ! Tôi  cứ sống hồn nhiên, vì xung quanh tôi cuộc sống là một thế  giới màu hồng dưới con mắt  ngây thơ của tôi.  Khó lấy chồng ư ? Ồ thì hai má tôi đó, đâu có chồng mà vẫn có tôi, vẫn sống  tốt.Khó làm ăn ư? Thì cứ cố  gắng như lời “chú bộ đội “ căn dặn: không được làm chuyện phi pháp,phải thật thà siêng năng,  và  luôn  đưa tay giúp đỡ   người  khổ cực như mình”. Trước  ngày hoà bình,tôi được một tổ chức  của người Mỹ  hỗ trợ tài chính hằng tháng, gọi là  Hội Cha mẹ nuôi quốc tế.Vì tôi là nữ nên  Hội luôn cử  những   người thuộc phái nam làm bố,có khi là một  thương nhân,một công chức,có cả sinh viên đang đi học. Hằng tháng, tôi được nhận một số tiền,tôi không  biết rõ vì hai má đi   nhận,nhưng dư dật cho một đứa bé nông thôn  ăn học. Những dịp lễ lớn thì có quà,   có thêm sách truyện bằng tiếng Anh rất dễ đọc,  rồi cả  vé xem xi nê ở những rạp lớn trong thành phố. Các “ông bố” người Mỹ gửi thư đều đặn hàng tháng, dù  tôi biết họ   bận rộn.Thư họ kể,bây giờ có dịp nhớ lại, đều chứa chan tình cảm  giữa  người với  người.Họ tâm sự với tôi kể cả những niềm vui ,nỗi  buồn lớn  trong gia đình họ,chứ không phải chỉ dừng lại ở  những lời thăm hỏi xã giao. Người giới thiệu tôi  đến tổ chức này chính là “ chú bộ đội” ngày tôi lên bốn,   sau  cơn bịnh kinh hoàng,sốt tê liệt. Vậy mà  giờ khắc hoà  bình, khi mọi  người từng giây phút   hồi hộp chờ  người đến tìm, thì tôi lại vô tâm đến đáng trách.

 Sau ngày  30.4,mọi thứ thay đổi, vì trường học  mở lại, tôi bỗng có nhiều đứa bạn ,còn bạn cũ thì  đi đâu cả. Rồi   mới biết, đứa  đi học trường khác, vì  sau đó hệ trường công lập không còn,  ai ở vùng nào về vùng đó,  đứa   đi vùng kinh tế mới, đứa  ra   nước ngoài,  còn  tôi cứ lớn dần.  Khi tôi ra trường, làm cô giáo,giai đoạn  1985-87,mới rộ lên hiện tượng “ con lai”chứ suốt hăm mấy năm   trôi qua,  trong con mắt mọi  người,ở  Dalat,ở thành phố Hồ  Chí Minh,  tôi là  một công dân Việt Nam.Không phải vì tình trạng thể lý  - liệt tay phải - của tôi, hay do tôi có làn da khác mọi ngươi- mà  ai ai cũng đối xử thân thiện với tôi. Từ tuổi  học mẫu giáo,tôi  được các cô giáo  khen “con nhỏ  tành lanh”tức là  láu lỉnh,  nhanh nhẹn, chứ tôi không dám nhận mình  là đứa   thông minh. Từ tuổi bé tí tẹo, tôi đã hiểu :  đừng làm khác những  gì mà mọi  người từng  cho là đúng, rồi phải luôn cố gắng, đừng sống che đậy, dối trá, biết  nhìn xuống, tức là    có tấm lòng nhân ái.Chị Bé từng khen tôi:hồi nhỏ, Hoa Tre đã  biết sống tốt ,nên  người khác cũng tốt với mình. Coi trên truyền thông, những trang You Tube,  đôi khi tôi nghe những lời tâm tình  của một vài bạn,  vì họ cũng cỡ tuổi tôi, có  người nhỏ hơn, thuộc diện con lai,  sang Mỹ định cư,   họ từng bị cô lập  thời còn bé,khi ở quê nhà . Cũng có thể vài cá nhân riêng lẻ, nhưng   với tôi,thì việc ấy không hề có . Những ngày gia nhập đội  Thiếu niên tiền phong,  tôi bất ngờ biết mình … có máu văn nghệ.Múa,hoạt cảnh, hợp ca, đơn ca,  thậm chí được  cử đi thu âm tận đài phát thanh Tỉnh Lâm Đồng ngày ấy, tôi cũng có tên, có mặt. Tôi nhớ  khuôn viên Đài còn  nhỏ lắm,nằm  trên vùng  đồi trông xuống hồ Xuân Hương. Không phải vì tôi “dựa hơi “chị Bé tổng phụ trách, mà   việc chọn là do các anh chị trên Tỉnh .  Đến bây giờ,trong  tim tôi vẫn bồi hồi ngân vang những câu hát “ Bay lên nào, em bay lên nào/Ngày vui toàn  thắng tưng bừng pháo hoa/Bay lên nào, em bay lên  nào/Vui bạn Nam  Bắc về trong một  nhà.. Chị Giang  thỉnh thoảng  hứng chí   cũng hát khi  cả ba chúng tôi,Giang, Bé, Tre gặp nhau ở  quê các chị hay  nơi tôi đang ở,   Tre bay lên nào..Tre cùng Giang Bé  về trong một  chòi . Ngày ấy,  tiếng  hát  non nớt tuổi  mười  ba  của tôi   vang lên trong làn sóng phát thanh tỉnh, thế mà có mấy  người bạn mãi Hà Nội lắng nghe, rồi gửi  thư đến tận nhà tôi,làm quen,có cả  nam lẫn nữ. Các bạn ở loanh quanh khu tập thể  Nguyễn Công Trứ  Hà Nội. Khu tập thể được xây dựng trên nền đất cũ từng là nghĩa địa của người Pháp. Đây từng là biểu tượng cho cuộc sống văn minh thời kỳ bao cấp với các dãy nhà kiên cố và hành lang chạy dọc ở giữa. Các hộ gia đình cán bộ, công nhân viên chức nhà nước, được chia nhà ở đây từ  1960, chị Giang  giải thích , còn chỉ  dẫn rành mạch,  để như tôi có dịp ra thăm vào  những năm sau thì dễ tìm ,khi tôi quen biết chị  vào dịp tết  1978,chị lên Dalat đón xuân cùng chúng tôi, Nằm tại phường Phố Huế, quận Hai Bà Trưng, khu vực tập trung đông đúc , phố chính của Hà Nội đấy. Tôi cũng mô tả sơ lược về  con đường Nguyễn Công Trứ  phía  sau  nhà tôi,  trước vườn nhà chị Bé, nơi hai má tôi từng làm công ở đây.  Con đường Nguyễn Công Trứ ngày ấy  đìu hiu,một bên là đồi, đồn lính đầy kẽm gai , một bên là thung lũng rau. Nhưng các bạn Hà Nội thì nức nở khen Dalat đủ thứ,nào có rất nhiều loài   hoa đẹp,  phong cảnh thiên nhiên tươi thắm,khí hậu mát mẻ như trời Âu.. Họ có ảnh chụp chung ở sân nhà khu tập thể,chắc hẳn  moi từ album gia đình, gửi cho tôi, còn tôi thì  chọn một ảnh  chụp để dán học bạ,gửi cho họ. Lúc đó tôi đã   có ý đồ chuyển giới,nên tóc hớt tém, vẻ mặt  nghịch ngợm như con trai, cộng với cái tên La Xá Xị khiến nhiều bạn  nam  thích thú,nghe hát sao cứ ngỡ là ..con gái !

 Hồi đó tôi đang  tập  toẹ học đệm đàn ghi ta, tôi nhớ khi tôi    say sưa với điệp khúc :

Đêm pháo hoa,  vang tiếng ca/Hoa lưng trời và  hoa trong ánh mắt/Đất nước mình  bao nhiêu hoa đẹp
 /Bác vun trồng giờ nở hoa dâng  Bác.

 Chị Bé  ngồi bên vỗ tay hát theo,nhưng rồi phút chốc  hai chị em mắt  nhoà lệ.  Chú Chuột Đen,khi tôi biết thì có tên Đa,mãi đến ngày hoà bình ,mới biết tên thật của chú  rất  không giống con trai chút nào . Tên Hoa.

 Sau này ra làm cô giáo,có lần tôi bắt gặp một bài thơ  mà câu nào cũng có một chữ Tím : Nàng mặc màu áo tím,chợt tím cả bầu trời. Tôi về  yêu sắc tím,  và tim tím  hồn  người .. Tôi lại nhớ về những câu hát  ngày  30.4 năm ấy.
Đêm pháo hoa,  vang tiếng ca/Hoa lưng trời và  hoa trong ánh mắt/Đất nước mình  bao nhiêu hoa đẹp
 /Bác vun trồng giờ nở hoa dâng  Bác.


 

 Những ngày   chị Bé đi học rồi đi dạy xa,tôi lên cấp ba, hai má tôi được  nhận làm tạp vụ cho  mấy cơ quan hành chính  trên tỉnh,cũng nhờ  có các chú trong uỷ ban quân quản ngày trước cử đi, vì họ thấy  các má  chân chất, cần cù, lý lịch tốt.Làm việc ở các cơ quan công quyền,nhà lại gần bên trụ sở Uỷ ban ấp,nên  rất nhiều chú cán bộ, bộ đội tìm đến,nhờ tìm  người quen, nhiều nhất là  những  người sinh trưởng từ bên kia vĩ tuyến  17, vào vùng Lâm Viên này định cư,  từ  rất lâu.Họ cũng xem tôi như bao   thiếu nữ thuần Việt,  có  người buột mồm,trời,con  gái  Dalat,ăn rau  ăn quả nhiều nên da dẻ nom tươi   tắn quá nhỉ .

 Tôi xa thành phố với  biết bao kỉ niệm,    để đến  định cư một nơi cuối trời nam.Má Mười  ngó vậy mà lai láng hồn thơ,có lúc  ngồi buồn thì  nỉ non :Tấm áo nâu, rướn mình đi từ cõi rừng cao / Dắt dìu nhau vào đến Cà Mâu, áo ơi / ( Tình ca- Phạm Duy ). Buổi từ   một khu đồn điền  cao su vùng Long Khánh miền đông đất đỏ,có “ chú bộ đội”  dẫn đường, nay về đây có cô Kê,một cô giáo,chồng cũng là một “ chú bộ đội thầy thuốc” chỉ lối,  cho nên dù bao khó khăn,  năm con  người trong nhà đều vượt qua .  Đã có  nhiều  người   đùa : sao hồi có  điều kiện đi Mỹ mà sống cho  sướng,mày hổng chịu đi ! Tôi cũng đùa :ừ hé,rồi cứ tháng tháng tui gửi về cho bà vài thùng ,bà khỏi phải làm gì hết ,sướng thiệt. Nhưng chị ấy  xì ra một hơi dài: ở đâu cũng phải làm cực  khổ mới có ăn. Rồi chị thì thào :có  người  về già cũng muốn về đó.Nói gì thì nói chứ  quê cha đất tổ vẫn là nơi người ta tìm đến khi đã thấm bụi trần . Hai má tôi thì  giải thích theo kiểu “ đi thì   zụt con nó cho ai. Tụi tui chỉ là bà ngoại hờ”.Nhưng tự đáy lòng, đến  bây giờ tôi tự thú mà không thẹn với  lòng ,rằng  tôi muốn ở lại nơi này. Tôi muốn có dịp  ghé thăm mộ “ chú bộ đội” một con người  xa lạ,mà hai má tôi xem như em   út ruột thịt trong nhà,chú ấy cũng coi tôi “ cái con lạch chạch” láu cá,  hai má lo cho mày,mai mốt mày có đi lấy chồng,đẻ con,cũng đừng quên ơn hai má mày đó.

 Báo hiếu, đó là  bổn phận  của kẻ làm con,   và với ba má con tôi, có lẽ Ông Trời thu xếp,cứ đi đến đâu cũng phải có nhau. Tôi đi học   làm cô giáo mà sinh con,phải có hai má   giúp đỡ,chìa cả bốn bàn tay chứ không phải “ đưa tay ra”. Rồi nuôi một lúc ba đứa,liệu thân tôi,chỉ một bàn tay duy nhất,  có làm được không ? Hồi đó,mà  bây giờ cũng vậy,chân tôi   rất to, vì  cả hai chân  nhận lấy công việc của  bàn tay phải bị liệt.  Mỗi khi  đi mua  giày dép,bao giờ tôi cũng lượn lờ ở hàng  “các ông”, vì mọi số  của  phe chị em  ta  tôi   chỉ mua cho hai  má,cho con gái, bây giờ còn mua cho má con cô  Kê nữa,chứ  phần tôi thì ,  tôi tự  chọn.Và do vậy mà  kiểu  nào  ai  trông thấy cũng nhăn mặt :  khiếp,thứ này đàn ông  họ đi,chứ  đàn bà  ai mà  xỏ vô, ngó mà  … Các con  trưởng thành,làm ăn khá giả,  nên muốn tặng má đôi giày, đôi dép,thì   cù rủ má đi  ra hàng  đóng  kiểu, để cho bác thợ đo.  Bọn nó   đôi  bận ra nước ngoài , việc mua sắm đầu tiên là  “ ra  phố giày dép” Trước đó  đi  qua  gặp mấy bà đầm là  dòm dòm thử kiểu các bà mang là  kiểu gì, có khi tọc mạch còn hỏi : thứ này bán ở đâu ?   Bây  giờ,  tuổi già bóng xế,có thể  sống ở  miền quê,mà bởi tôi   muốn   tri ân má con Cô Kê,những  người luôn coi tôi là “ người nhà “, tôi cũng cần có hai má bên cạnh.

 Nhưng người luôn cho tôi một  hướng đi,phù hợp với cảnh ngộ của mình,cho tôi niềm lạc quan  trước gian khó,cho tôi ý chí  để chiến thắng bản thân và  nghịch cảnh,cho tôi tri thức để tôi biết nhận định đúng sai,phải trái  giữa một xã hội  ngày ngày  biến đổi không ngừng, cho tôi một niềm tin,để tôi  luôn hy vọng,thì hình bóng “chú bộ đội” năm xưa lại hiện về.



 Chúng tôi đã có  dịp đi  viếng mộ chú ấy ngoài Côn Đảo.  Ở đây,  có  khắc một bài thơ của cụ   Cụ Phan Chu Trinh viết trong những năm tháng bị giam cầm ở đây.  Với cụ,  sống  những ngày ở Côn Đảo là một  hệ quả tất yếu của  mọi kẻ mang hai chữ “ làm trai” trên con đường cứu nước,bởi đó là tư thế “ đứng  giữa đất Côn Lôn”. Cả bài thơ dồn vào  cặp  tính từ láy “  lừng lẫy”,   mô tả    phẩm chất của một  con người  với  danh tiếng vang dội, được biết đến rộng rãi với sự ngưỡng mộ. Trong  suốt hơn nửa đời  người, tôi đã   tiễn    đưa bao  người  thân, bạn bè  đến nơi  an nghỉ cuối cùng,nghĩa trang nào cũng bề thế, san sát  những vòm mộ bia được   tạc đá,khắc chữ  nghiêm cẩn,có   nơi đồ sộ  như một  ngôi  nhà   của  người  đi xa .Còn nơi chúng tôi tìm đến.. Có một thông số nhiều  người trong chúng tôi  biết khi đến.Trong số hơn 1.900 phần mộ tại nghĩa trang Hàng Dương Côn Đảo, chỉ 713 ngôi mộ có thể xác định danh tính. Mộ “chú bộ đội thân yêu “của chúng tôi ở đâu? Có trong  713  ngôi mộ có tên,nay là số của hơn  tám trăm  ngôi mộ còn  lại. ? Chúng tôi đến vào giữa trưa,miền biển  nhiệt đới phương Nam lồng lộng  gió,  đi  ngoài đường nắng đổ  lửa trên đầu,nhưng nơi đây thật mát,bởi có  vô số  bóng cây xanh  toả  bốn bề,  những hàng bia   hiện ra trước mắt chúng tôi  là  những chiếc trụ cột  đơn giản,bên trên có gắn những khối  hộp có   khắc  một ngôi sao  đỏ chói,tượng trưng ánh sáng của Đảng.   Mỗi khuôn mộ là một khối đá đen  chữ nhật, cũng nhỏ  nhắn như  phù hợp  cột bia,   nằm rải rác, đều đặn  khắp một vùng  cỏ   xanh  rộng  hút tầm mắt . Chúng tôi đứng thẩn thờ,nhoà lệ. Người thân yêu năm xưa của chúng tôi đang ở đây,nhưng ở     đâu? Không,  anh ấy   đang ở  đây,   rất gần với chúng tôi.  Tôi chợt nhớ những  năm tháng tôi còn bé,anh lúc ấy là một thanh niên đôi mươi,   trai tráng,khoẻ mạnh, tươi tắn,   một  tối xuất hiện ở nhà tôi, áo  quần nhuốm đầy  đất đỏ. Má Mười tôi la lên:

- Mày ở đâu ra,  đất vườn giờ này đầy sình mà ?

- Ối,  đất này quí lắm, tận…

 Anh ngắc ngứ, đưa tay chỉ .  Khi cả bọn gồm hai bà chị   Vĩnh và Bé  vặn tra, anh  bảo:

-Tao  xuống hầm sâu,cho biết.

 Ừ thì  vùng quê tôi nhiều nơi người ta cũng đào hầm,  bởi chiến tranh thì  sống ở hầm   tránh bom đạn là lẽ đương nhiên. Bỗng  chú bộ đội ấy thì thầm :

- Ai   rồi cũng một lần xuống !

 Và như sợ chúng tôi  có cái  bản chất “lạch chạch “ vặn vẹo ,anh thêm như  để kết thúc câu chuyện về “ bộ  quần  áo  nhuốm đầy đất  đỏ “:

- Mai mốt tụi bay lớn lên, khi đó biết đâu thanh bình rồi, đi học  người ta cho đến  .. chỗ có hầm, hầm có súng ống đủ thứ, thì  cố gắng xuống coi cho biết.

 Rồi anh quay ngoắt đi,bao giờ cũng vậy, vì anh này rất  bận rộn :

- Thôi,  tao  nói  vậy thôi, đừng thắc mắc làm chi cho mệt. Tao có nhiều thứ phải lo, tụi bay cũng  vậy, mà ai cũng vậy hết !

 Những năm học đại học,nhà trường đã tổ chức cho chúng tôi đến viếng địa đạo Củ Chi một lần . Tôi chợt  như thấy anh đứng đó,ôm bộ  đồ    bám đầy đất,  miệng  thì thầm:Ai   rồi cũng một lần xuống. Bất giác tôi đưa mắt  nhìn quanh.Hồi ấy tôi  vừa đi kiến tập sư phạm ở năm học thứ ba, bi quan lắm, vì ở trường  phổ thông,  chỉ có vài lời về cánh tay tôi, khiến tôi đau đớn ,trong khi ba đứa bé   và hai má lại đổ bịnh cùng một lúc… Tôi hiểu,   trước khi nằm xuống thì hãy  đứng    thẳng,    và  nhớ “gian nan chỉ là chuyện con con”. Tôi nhớ đến một cây tiếng Anh dán ở đầu bàn học của anh bên nhà ông Cửu Điền ở   đường  Nguyễn  Công  Trứ   người chú  họ đã  dẫn anh ngoài  quê vào đây : To be a man,one must  suffer the  blows of misfortunes.  Khi học  đến tập thơ Nhật ký trong tù của Bác Hồ,chúng tôi hiểu, à đây là lời Bác tự động viên mình  giữa chốn lao tù xứ  người :  Sống ở trên đời, người cũng vậy/ gian nan rèn luyện mới thành công.

 Bây giờ  thì anh ở trong lòng đất nơi này,đất Côn Đảo có  màu nâu trầm, nâu đỏ ,nhiều đá,thứ  đất  đồi núi và các phiến cổ thạch lâu năm. không  phù hợp cho    các loại cây rau  mềm mại miền ôn đới cao nguyên nơi anh  trưởng thành, gắn bó, cũng không phải  là vùng nhiều phù sa cho  lúa  tốt tươi ở miền tây sông nước tôi về, mà    Anh tự  nguyện  đến nơi này,  vì anh  đã có những tháng ngày “mưa nắng chi sờn dạ sắt son”. Anh chết tốt vì anh đã từng sống tốt. Dẫu  còn lại ở Anh là  tấm bia  cột đá,khuôn mộ cũng  là khối đá  vuông vuông,nhưng tất cả sẽ trường tồn với thời gian. Bởi  nối   tiếp bước chân anh cho  lớp lớp thế hệ đàn em  năm mươi năm qua  không dừng lại.

Từ ngày mà đêm đêm co ro trong chăn,chúng tôi phập phồng chờ có chú bộ đội đến gõ cửa,hỏi han,mắng mỏ mà vui mừng,bây giờ đã qua năm mươi năm  lẻ. Người thiếu nữ thổn thức hằng đêm nay lại trở về  ngôi nhà xưa,sống  ẩn dật nhưng không cô độc. Cuộc sống ngày nay khiến không một ai thấy cô đơn lẻ bóng.Bước ra đường là  phố xá ngựa xe  xuôi ngược,  về nhà nào là  ti vi, lap top,điện thoại,  rồi bao con người,chỉ alo, hay email.  Đi khám bịnh, chợ búa,thăm viếng cũng trở nên đơn  giản. Người anh ,chú bộ đội đi  xa, nhưng anh vẫn rất gần,vì anh đã giao nhiệm vụ ấy cho một  người khác . Anh ấy là Chuột Đen,còn  người kia là Mèo Mun,  cùng từng lo lắng, cũng mắng mỏ, và  yêu cầu cao đối với bà  giáo này.  Những năm tháng  đã qua, từng thấm thía “ dẫu mưa nắng,trái đất tròn vẫn đẹp” nên  luôn ý thức “đời yêu ta, ta phải thắng cho đời”.Họ đang sống như Ngưu Lang- Chức Nữ, nhưng hề gì,ngày xưa  mỗi tháng bảy  phải  cầu cứu các chú quạ bắc cầu Ô Thước, nay thì   nhiều    phương tiện  hiện hữu hơn.  Thôi cứ như thế cũng được,dù  chị Bé bị di chứng chất  da cam nên ngày đêm khốn khổ với bao  căn bịnh tuổi tác, nhưng vẫn lạc quan.Có chút lương hưu, cả tiền  thừa kế,rồi có niềm vui, và sức khoẻ không chỉ là mặt thể lý,mà con tinh thần,nên cứ sống tốt, thì mai kia  sẽ  một lần xuống đất  thôi.

                          Hoa Tre .

 

 

 

 

Friday, February 27, 2026

THÁNG BA SẮP VỀ .

 Trước  khi    theo Tre  về   nhà  cô Kê,nơi  bà  quản gia này được chủ tín nhiều  suốt  nhiều năm qua , đồng ý tiếp nhận thêm  một trợ lý mới, bà bạn già của tôi không quên nhắc  một điều mà    tôi nghĩ hẳn bị ám ảnh khá lâu :

Thursday, February 12, 2026

NHỮNG MÙA XUÂN .

         Mấy  năm  sau ,( khi  bọn  tôi   về   Đồng Nai  dạy  học,  trừ  một  vài  cán bộ ở  Phòng Giáo  dục  tuổi trung niên,      mỗi tôi là    người  gốc  Bắc   lặn lội vào đây ,chọn   nơi  này  làm   quê    hương)  mấy khoá       đào tạo giáo viên cấp Hai của trường  cao  đẳng  sư  phạm  Đồng Nai      mới  kịp  bổ sung   những thầy cô giáo  trẻ măng,mới toanh,  đa   số  gốc  vùng  Thanh   Nghệ Tĩnh      thậm  chí có    thầy  hiệu trưởng  trong huyện Tân Phú  hồi ấy,  môt   bận  về  Huyện họp, đùa   :  có  bữa  sáng mở mắt, tôi  ngỡ  mình  đang ở  ..Nghệ An !  Tôi  dông dài  một  tí  vì khi có  các  bạn đồng  hương, mỗi  bận hè   về quê tôi không   thấy lạc lõng  trên chuyến tàu  xuyên Việt,  và nhất  là Tết có phải     xa  quê  vẫn  ấm lòng, vì  có    nhiều  người  bên cạnh mang tâm trạng  "bâng khuâng chiều ba mươi,  tóc em xanh màu trời " 

 Tôi  nhớ   cái tết thứ hai  của  nghề  gõ đầu trẻ,  ( tết  đầu tiên  bố tôi cho  người đón tôi  ra  Bắc )  tôi  nôn nao được về cùng  bố, bởi cách đó mấy tuần,  ông  gửi thư bảo đang  công tác dưới miền Tây,   độ chừng      khi tôi vừa được  nghỉ thì ông  sẽ  chờ tôi  ở  nhà chú Toàn ( hồi đó  gia đình chú thím đang còn ở  Thành phố Hồ Chí Minh, chú thì  đang đi học cải tạo  ngoài miền Trung ), nhưng sau đó ,ông  đánh điện tín,  rằng đang nằm viện  vì bị tai nạn ở chân trong một  buổi  lội  ruộng. Cô bạn ở trường  Phú  Quảng  gần đó   bèn  bảo :  Vậy thì  về  nhà tớ ăn tết. Ừ phải .    Khi  nhận   được   điện của bố, tôi nhủ thầm, thôi đành ăn tết ở nhà chú thím  Tôi đã  hai lần đón  năm mới ở   đây.    Thế là tôi lại chạy ra  Bưu điện  Huyện,  điện   tín về rằng tôi lên Dalat với bạn.   Đấy là lần đầu tiên tôi  được đặt chân lên miền cao nguyên  thơ  mộng này ,  lần  đầu   được  chiêm  ngưỡng  khung trời mơ ước   vốn   đầy màu sắc thần tiên của   người bạn thân thiết.   Cô gái này   xa nhà,  mọi  niềm thương nỗi  nhớ đều  gửi  về  nơi này,một  ngôi nhà   nhỏ  bên chân đồi, trông ra   khu thung lũng rau xanh  ngan ngát,  có  những  người thân yêu  ở đây , vẫn luôn trông ngóng kẻ đi  xa  trở về.

Hôì   âý xe   đổ  khách  xuống ngay  bến  ở đầu con  đường  Nguyễn  Văn Trỗi,mà   trong  ký ức  mọi  người,là  đường Hàm  Nghi,nơi  người  bạn tôi thời nữ sinh áo trắng  lui tới  nhiều nhất, vì  cô nàng tâm sự, có hiệu sách Khải Minh, bán  đủ  những loại sách   cần   thiết,có hiệu áo dài Chí Công,may đồng phục  aó dài  rất  đẹp,mà giá phải chăng, có  chè  Tuổi  Ngọc,  ôi thôi cái tên cũng đã  thấy  ngọt ngào,  tươi  trẻ,  và với  cô  bạn này,là  đong đầy kỷ niệm một tết    tuổi   lớp  Tám, đi mua viết máy, rồi   bỗng dưng  bị rượt đuổi,  và  sáng mồng một tết  mà co  giò co cẳng chạy khắp  ngọn đồi  của  Lữ Quán Thanh niên,nay   là   đường Võ thị Sáu,    thế   mà   năm ấy hình như   nàng này cùng với  Hoa Tre,    không   hề  bị  dí tận  ót , vì   dù  những chuyện   đều  ngoài ý  muốn, như  bao  nhiêu  người từng bảo !

  Đập vào mắt tôi là   những  ngôi nhà bé xíu nằm chênh vênh trên ngọn đồi,  lúc bấy  giờ trời đã     về chiều, phố xá  lên đèn,   phố núi  như những chiếc lồng chim xinh xắn.  Chuyến xe  lam  cuối ngày đưa chúng tôi  vòng qua đường Phan Bội Châu, qua  Võ Tánh,nay là Bùi Thị Xuân,rồi mới  vòng lên Phù Đổng Thiên Vương   để thả chúng tôi  đầu con dốc Trần Khánh Dư. Dù  ngồi chen chúc, nhưng tôi may mắn   là vị khách thứ  mười (  chiếc xe có hai băng, mỗi bên  đủ nhét  năm vị ) nên  có thể ngang ngửa nhìn ra  ngoài .  Con phố Phan Bội Châu lượn qua chân dãy phố lồng chim, bên kia là chợ Dalat  dưới một thung lũng rộng,  hai dãy nhà thâm thấp chen chúc, lòng đường  hẹp,  vì  bên là đòi,bên là thung lũng,  nhưng không khí  tết  thật đặc biệt, có mùi  khói thơm    dìu dịu của củi khô, của lá cây  thay cho mùi rác ,mùi  khét lẹt của  khói xe  mỗi bận bọn tôi về lại thành phố lớn.  Hai bên phố,     san sát  mỗi bên một dãy  nồi  lớn  như cái thùng phuy cắt  ngang, đặt lên trên  những  hòn gạch chắc chắn,  hơi nước  bốc lên ngùn ngụt, và hẳn nhiên,   những thanh củi cháy rừng rực dưới   đáy thùng phuy. Lần đầu tiên tôi chứng kiến cảnh dân phố     nấu bánh ăn tết. Qua    một khúc quẹo , tôi bắt  gặp  hai thanh niên,    áo len xắn cao tay,  quần  cộc, chân đi dép, đang  gồng  người  giúp nhau kéo từng  đòn bánh tét  căng phù to, mọng nước,  ra  khỏi một "thùng phuy ". Họ cẩn thận  dựng bánh vào mấy chiếc  sô sắt,  rồi  mỗi  người một bên khênh chiếc thùng nấu  đi  đổ  ven cống, một dòng nước đen đặc,rồi họ lại cho    nồi lên bếp,lúi húi xếp từng đòn bánh dài vào, rồi đổ nước và đun củi tiếp, lửa bây giờ cháy  rất to. Đó là kiểu " thay nước ",  cũng có nghĩa là   ra sức đun  độ ..chục giờ nữa, thì  bánh    sẽ   chín tới. Hôm nay mới  26 chạp,mà  bánh   sẽ treo đầy các   vách bếp cho thoáng gió,  hẳn nhiên là bữa cơm ngày mai sẽ có món bánh ngon lành cành đào này ! Tôi khều cô bạn để  cả hai cùng nhìn và đếm, tất cả  là  ..ba mươi bảy  lò nấu bánh. Hẳn có nhiều hộ chung một thùng, vì mỗi thùng  chứa đến vài chục cân nếp, lá , đậu thịt.  Cô bạn bỗng   bồi hồi,ở nhà tớ, chắc mai   mổ heo,rồi mới gói bánh .   Xa  quê mấy tháng, từ hè nay mới hội ngộ,mà sao thấy như đã  lâu lắm .  Đám cưới  người chị  thứ   diễn ra  hồi đầu thu,nhưng cô này không thể  về, ông bố   gửi thư an ủi, thôi bữa nào tết  về,mẹ  sẽ   dành   riêng cho con   vài cân thịt nạc, làm chà bông đem  xuống trường ăn dần. Hai từ "xuống trường "  nghe  vừa thấy thương vừa thấy tội. Vì hễ mỗi lần nhắc, hai ông bà  già làm sao không nhớ  đến đứa con  xa . Một  con  heo  chừng  vài chục cân,chia cho   hai nhà,    nhưng mấy hôm ấy, hình như  đi đâu  loanh quanh bếp,sân  sau , nhà ngang, cả nhà  trên, nơi  treo nhờ những đòn bánh tét,bọn tôi vẫn  hít hà thấy mùi mỡ ,mùi thịt  nạc, mùi lòng , mùi thủ. Người mẹ   chỉ huy hai đứa tôi,  vì nhà chỉ có cậu em  út  đang là cán bộ  nông  nghiệp,chiều hai chín tết mới vác ba lô về, làm món thịt ngâm, làm chả thủ, những thứ có thể  để lâu,   cả món chà  bông ưu tiên cho   cô con gái đi xa.  Nước mắm   đun với  đường, để   nguội,   rót vào  các   bình thuỷ tinh   tám lít,mười lít,  sau khi đã xếp vào đây từng thớ thịt  đùi luộc vừa chín tới,được  cuộn chặt bằng những sợi lạt. Bình đậy kín, gọi là  các "thẩu thịt ngâm" được cất kỹ  nơi mát, dành ăn dần vào  những ngày  sau tết. Còn chả thủ  gồm toàn thịt  gỡ ra từ đầu ( thủ cấp ) chú lợn,   trộn với  chút nạc, thêm  nấm mèo, hành tiêu, gia vị vừa ăn,  đem xào thật chín,  

  rồi  gói chặt    trong   mấy  lớp  lá  chuối  như những đòn bánh tét . Trời lạnh nên chỉ  một đêm,  lớp lá mở  ra,hiện  lên  những " cây chả " to như  bắp chân, cứ  cắt khoanh, là  ăn ngay. Nhưng tết nhất  thiếu gì món, mà phải ăn thứ  để dành.  Có thịt  nạc rim ngọt, thịt nấu đông,   sườn  hầm..

 Ngôi nhà của cô bạn không  lớn,  kiểu nhà của thời "  nhà  nhỏ, vườn to", vì  người ta chú tâm  tậu  đất đai, để mai kia    dành cho con cho cháu. Ngày ấy,chỉ mới sau hoà bình vài  năm, dù tôi đã  chứng kiến cuộc sống tiết kiệm ở nhà chú thím, những công chức    cao cấp của  miền Nam, thì cái tết  ở nhà người bạn vẫn là "tết to". Tôi đem kể với  bố tôi thì ông cười,   Nhà nước mình  vẫn luôn mong cho  người dân  được ăn tết tươm tất như thế đấy con  ạ.

 Năm sau, bố đón tôi về  quê  bằng  chiếc xe công vụ, đi cùng một chú lái xe. Hai bố con ra  Bắc, quà tết chỉ có mấy  gói thuốc lá, bố bảo,   vì bố vội quá. Dọc đường,khi  đến Quảng Ngãi, bố tôi   tìm mua cả tạ đường, cứ  gói từng túi một cân, ông bảo đã lâu  đi xa,  về quê có chút quà    cho mọi  người .Món quà ngọt ngào .  Về đến  một khu chợ ven biển, hai bố con tìm mua mấy cân cá tươi, chỉ có thế. Ở nhà,  bà nội đã  muối mấy  thạp dưa cải,  đã lên chua lắm , bà sợ bị úng nên cho thêm muối vào. Và đấy là tết  quê  nội của  tôi. Tôi không so sánh " tết to " đậm vị phương Nam ở nhà  người bạn, mà tôi vui  vô cùng vì được ở gần bố  cả tuần, có ông bà  nội ngoại , có  những  người thân  đã từ lâu rất  gặp. Có một   cô là   em họ bố tôi,  do   dạy ở  trường trong xã  gần nhà ông bà nội, mà   chồng  cô lại  vừa   mất ,  chú này  công nhân,  bị ốm  đã lâu,  nhà   dột chưa  kịp  sửa,nên dẫn  cậu con duy nhất  qua ở chung với ông bà. Chú bé học lớp năm,rất sáng sủa,  được  bố tôi tặng cho  gói thuốc lá  thơm  để  biếu thầy thì  vui lắm.Ngày tết, có liên hoan ở  hợp tác xã,      món thịt trâu  chỉ đủ có   bốn khẩu dùng vài bữa, con  chó Vện được phần  cục xương to, nhưng nó tha thiết với món quà  quá,cứ gặm mãi  và cuối cùng thì ..bỏ  ăn.Vì cục xương chẹn ngang mồm.Mấy bố con ông cháu phải trói ghì con vật tội  nghiệp lại,  dùng kìm mới lôi được tảng  xương  trâu cứng như sắt ra khỏi họng con  Vện. Mấy ngày sau nó đều phải ăn cháo muối !

 Miền Bắc,ngày tết gắn liền với tiết trời giá  buốt. Cô bạn   tôi chỉ biết  ngày  mưa phùn tháng giá ở  bên kia  vĩ tuyến qua   một bài học  thuộc lòng của nhà thơ Bàng Bá Lân . Mây xám kéo ngang trời / Khóm tre già  nghiêng ngả ,lá rơi rơi,/ Chuối xơ xác run hoài trong gió lạnh/ Đồng trơ rạ  mênh mông và  hiu quạnh/ ... Da mốc thếch, đàn trâu đi uể oải/ ..  đường  lầy lội đón bước chân tê tái /của  người quê da nẻ  ( gót chân bị  nứt  vì rét ) xuýt  xoa đau/vài gái thôn bỏm bẻm miệng nhai trầu/cho ấm bụng và  hồng lên gò má..  Tôi bảo,  thi  sĩ thật giỏi,vì  ông đã vẽ bằng lời cả khung cảnh   mùa   xuân quê tôi  như thế,  nhưng chúng tôi  rất thích thú đoạn kết  

 Ở  giữa nhà  những tay cóng xoè hơ /bên lửa đỏ bập bùng ôi ấm cúng. Và  trong ổ  rơm vài cô em sầu mộng/cảm lạnh lùng thấm thía giấc cô miên. Người bạn  bảo,  thầy tớ  cắt nghĩa " giấc cô miên là  giấc  ngủ  một mình,nhưng   nồng nàn".

 Bây giờ,khung cảnh làng quê vào  mùa  rét thế nào,tôi chưa có  dịp quay về,ôi thương nhớ  da  diết.  Ngôi nhà có ông bà  nội ngoại hai miền,nay   đã là  những  toà nhà  gạch khang trang,  hàng rào vây kín như nhà  phố. Vào  đông qua xuân thì  đất trời vẫn  buốt giá như  xưa, vẫn "   tre  nghiêng ngả, chuối xác xơ,  đồng trơ rạ sau vụ gặt và đàn trâu da mốc thếch, nhưng  bếp  lửa ấm hơn , rộn rã tiếng cười,  người ở  quê không  hồi hộp chờ đợi món quà  ngọt ngào phương xa, bữa cơm nhiều thịt cá hơn dưa cải  rồi.Chỉ có những tấm lòng. Hai anh bên ngoại,cùng mẹ với tôi, đều ở  giữa xứ Sài thành hoa lệ, hai anh cùng cha, thì ở   ngay thủ đô,   nhà lầu ô tô sang trọng,  thi thoảng hỏi han  qua  Zalo, nhưng vẫn là  cầu nối  để tôi ở nơi có những con phố nhấp nhô tổ chim thấy ấm lòng.

 Ngôi nhà  lần đầu ở miền  " những con phố nhấp nhô tổ chim"    mà    tôi làm  quen   này, nay chỉ còn một bóng nhỏ nhoi bạn tôi ra vào.Một dạo,  từ khi  hai đấng sinh thành đi xa,  đám cháu chắt có tìm đến.Và rồi.. Bạn tôi ốm đau,lại sợ ở nhà thì  ..sợ !   Bèn  đi ở trọ !

 Có thể  ra  giêng,  tức là chờ hết năm nay, qua năm  tới, tớ  sẽ .. bán nhà   bạn ạ.Rồi đi đâu ?Ơ thì vô nhà dưỡng lão. Chứ  tớ  nhìn quanh,ngoài hai bà  Giang Tre, có thể túm áo nhờ vả khi cần,thì  nào còn ai .Mà mắt  và tai tớ  rất cần đến thuốc  đặc trị .

Ừ,có thể đã  đến lúc phải thế thôi. Những ngày thơ bé,tôi không bao giờ hình dung một ngày có mặt ở  khu chợ Tân Đinh, chợ Bến Thành, vì  thấy trơ trọi quá, mẹ mất,bố thì bao nhiêu là việc, ông bà đều tuổi cao,  tôi  cũng sẽ là một cô  giáo   ở  làng như  mẹ cu Tuấn  nhà nội tôi,  và  mỗi bận  tết về,   ngơ ngẩn với những sáng ngắm  khóm tre già  nghiêng ngả, đàn trâu da mốc thếch .. Và bây giờ tôi lại ở đây, vẫn bộn bề  toan tính cũng để một ngày mai, khi hai  ông bà  đều  bốn mắt,ba chân, cùng đi nhà dưỡng  lão,thì nhà phải bán . Cô bạn  đã chọn nơi này,   xoá đi trên một góc đồi  ngôi nhà nhỏ xinh xắn, mà  giữ lại trong tâm hồn   một quãng đời   êm ả, những ngày có mẹ có  cha, có những đêm nằm giật mình vì  những trái thông khô rơi lăn lóc trên mái tôn,  nghe từ dưới ao xa tiếng ếch nhái kêu ồm oàm,   đó là   kỷ vật mang theo suốt thời tuổi trẻ ngược xuôi tìm lý tưởng, và nay hạnh phúc, điều đến sau tất cả, là chuỗi ngày  tàn mà thanh thản, dù  kỷ   niệm xưa "như trăm ngàn mối nhện, mỗi lần nhớ về càng thêm  vấn thêm vương ".

                                  GIANG và  BÉ.

                               


Wednesday, January 14, 2026

TUY XA MÀ GẦN - TUY GẦN MÀ XA .


 Viết  để cám ơn các Anh Chung, Sang,Chiến .. và tập thể   các anh chị  lớp 8B ( 1977-78)  trường Phú  Ngọc A,  huyện Tân Phú ( cũ ) Đồng Nai  đã  hết  lòng đã giúp đỡ  bà  giáo ngày  xưa   trong  suốt thời gian qua .

 Và   chúc  gia đình Anh chị Linh - Phương   luôn  gặp  điều tốt lành.

Ông Bọ của chúng tôi  đã  có  những  ngày tháng yên bình  khi   đến sống tại thành phố êm  ả này. Cứ  mỗi thời khắc trôi qua, nhìn mấy đứa cháu   nội của ông cụ  lớn dần,  hai  anh con trai nhẩm tính số thời gian ông ở đây.

Một người  bạn  vong  niên của ông,    quen biết tình cờ tại  câu lạc bộ dưỡng sinh dưới thành phố Hồ Chí  Minh,khi ông  Bọ   rời    Hà  Nội có gia đình anh con thứ, về với anh con cả,ở đây.  Ông này lên Dalat  cùng vợ chồng tôi thì ông kia, cũng bất  ngờ  đưa  cả đại  gia đình lên mở  khách sạn ở vùng  dù  xa  chỗ nhà tôi độ  năm sáu cây số, ôi  vù xe thì mấy  hồi.Quản lý khách  sạn có khi  khá bận  rộn,nhưng có những  khoảng trống mà  không biết  phải làm gì.Thế là  ghé quán cà  phê  nhà tôi,ông Bọ đang làm việc ở đây, một công đôi ba  chuyện,đi  thư giãn ,đi thăm ông bạn hơn mình cả con giáp,và   tìm  thêm mối  tương  giao. Nay ông lại mở  một homestay lùi sâu về   vùng đồi xa , giao khách  sạn cho  các con,mỗi lần muốn  ghé thăm ông bạn cố tri phải  lái xe vòng vèo  nhiều  đường đèo cao,dốc dứng,  đến hai  chục cây số,nhưng  vẫn ghé    quán đều đặn  mỗi tuần một lần. Ông đến, có khi chỉ  cùng ông Bọ  ngồi trầm ngâm bên nhau,   thường chọn  thời điểm quán vắng khách,  uống    một  ly  trà   pha  thật  đắng  rồi  thì … ra về . Nom dáng ông bụi bặm ,phong trần như  một lãng tử,tóc  hơi lùm xùm, quăn tự nhiên,râu quai  nón, luôn mặc  bộ trang phục của  người thường xuyên trên lưng ngựa,áo ghi lê vải dày,quần jean,  giày  bốt gót cao, nón cao  bồi  bẻ   ngược vành, ngậm tẩu ,nhưng hút  rất ít. Ông  bảo  trang phục này ấm,gọn,phù  hợp  với khí hậu lạnh lẽo   vùng này   và  công việc   luôn   di chuyển  của  ông, hơn nữa lại  được   người thân   gửi  từ  nước  ngoài v ề  làm quà,  chứ   ông không có  mộng làm  một   kỵ sĩ. Ông bảo: tôi có  tìm hiểu,  tậu một   chú  ngựa   mất  hơn  hai trăm  triệu,rồi hằng ngày   phải  đi kiếm cỏ từ vùng  bờ vườn  tận  ngoại  ô   xa    xôi , vì  vườn bây  giờ  toàn nhà  lưới,  có khi phải   đi  gom vỏ  trái  bắp tươi  từ  những  sạp bán  bắp  sỉ hay  các   bếp luộc bắp,tóm lại là khá  mất  thời gian và tốn kém . Ông cứ  ngồi ở nơi quen thuộc,nhìn  về một góc quán,có chiếc máy hát dĩa không biết chú Quỳnh,  chủ khu  đất này,em ông Bọ,mua  lại từ đâu, có  vẻ thích thú và  trầm ngâm    như  đặt hết tâm trí vào  một vài bài hát  của  một thời xa  xôi .  Máy đĩa than cũ, các bài hát cũng  ,theo ông,nó  quen    thuộc với ông từ hơn  nửa thế   kỷ trước.  Cólúc ông  thì thầm ngân nga.

 Đường về nhà em,cách hai đoạn đường dài.

  Tuy xa mà gần,tuy gần mà xa ..

Chắc  ngày  xưa ấy ông khách đặc  biệt này  từng có một mối tình  đẹp và dang dở. Vì thế mà đẹp.

Ngày  biết tin ông  Bọ  bị đột quị,ông  cũng tự lái xe theo đoàn chúng tôi  về tận Thủ Đức  để thăm,sau đó  ông cũng  bỏ việc nhà mấy  hôm  để tiễn biệt  người  bạn cố tri.

 Và  ông vẫn ghé quán đều đặn, dù  nơi này chỉ còn hình bóng ông Bọ qua chiếc máy hát cũ và bài hát có giọng hát của  một cô ca sĩ từng lớn lên ở vùng Thủ Đức,nơi hai ông cụ  gặp nhau lần đầu,   mang  nghệ  danh  hai  thứ  thảo  mộc có  nhiều  ở   khắp   các miền quê   nước Việt  -  Trúc  Mai .

Bởi với ông,tuy xa mà gần…

   Các  con  và đám cháu chắt của  ông  Bọ  dưới thành  phố  là sợi dây móc nối với người  bố dượng của tôi,  con số  ấy với  ông là tất cả .Khác hẳn với  ông  bố đẻ của  tôi   tại  Hà Nội, ngày  đưa tang    người  người  vòng  trong  vòng ngoài trong nhà  vĩnh  biệt,ông  Bọ   dường  như  không có  ai.  Ông cô độc từ  bao  giờ . Cưới  mẹ tôi    khi miền Bắc   vừa  ra  khỏi cuộc kháng chiến chống Pháp gian khổ, mẹ tôi  đi học nước  ngoài về,  thì  đối  diện  với  một mặt trận  mới :vừa  xây  dựng  hoà  bình  nơi  đang sống,vừa  dồn  sức lực  để   đấu tranh thống nhất  nước  nhà  .  Ngày ấy tôi bé quá,  khoảng thời  gian  ở  chung với gia đình mới của  ông và mẹ tôi  dường như  rất   ít,  vì  bởi sau đó thì mẹ   mất- bà   bị   bom  khi   đi công tác,  người ta  kể  bà  còn  đeo  một cây súng trên  vai,lúc  ra  ruộng cấy  thí điểm- Hai  người con  trai  khi ấy còn   rất   nhỏ,   anh  lên   sáu  và  bé em  đang  thỏ thẻ trẻ  lên  ba . Bố  đẻ  tôi    cũng  vừa đón   cậu   bé  con đầu tiên  cùng  Mẹ Thu,  cũng chật vật   nhọc nhằn  chăm  trẻ trong   chiến  tranh, nên  thấu  hiểu lắm . Ông tìm  mọi cách  để chia sẻ   bớt khó   khăn với  một  người từng là  đồng đội của   mình.  Ông  Bọ  luôn  lặng lẽ,  từ  khi   cưới mẹ tôi,biết bao  lời  ra tiếng  vào,   rồi  lại âm thầm  nuôi con.  Bố tôi kể có tìm cách mai  mối  một cô trong cơ quan,chồng  đi  B  hy  sinh,mà chưa có  con,  nhưng ông Bọ từ  chối. Người  bạn thân thiết của  ông quãng thời gian ấy  lại chính là   bố  đẻ của tôi.   Và  rồi ông  cứ  lặng lẽ làm lụng nuôi con,  chẳng bao giờ  than thở,không nhìn ngang nhìn ngửa,mà  chỉ nhìn  hai con mà sống. Niềm hạnh phúc của ông  có lẽ  lúc  được nghỉ  ngơi sau  một ngày dài quần  quật việc  làng  xã - ông làm kế toán  cho  một nông trường, và còn kiêm  thủ kho, rồi  đội trưởng đội sản  xuất,bởi tính ông chu đáo,thật thà ,và  bởi chiến tranh ,bao  nhiêu  lực  lượng ưu  tú,trai   trẻ  ra mặt  trận  cả   - ngồi  thư nhàn trên hiên,nhâm nhi  ly  nước chè xanh đắng chát,hoạ hoằn có thêm đĩa   đậu  phụng  luộc. Người ta  buổi  tối thì không dám  đụng đến  nước chè  cốt,trừ hai ông  bố của tôi. Thứ   giải  khát  khiến  mọi  người mất  ngủ thì  hai ông cụ này lại xem như   liều thuốc  an thần.  Công việc phải giao tiếp nhiều, ấy vậy mà  khi nào cũng thấy ông  lủi thủi .. Rồi con  lớn, bố nghỉ hưu, ông  đành đi theo con,  khi  vào Nam,khi  ra  lại Bắc, cho đến  lúc gia nhập    với  hai ông  Dalat,mở quán cà phê  Ba ông già .Bản tính đã ngại gặp  gỡ,lại nay đây mai đó  nơi này chốn  nọ  vì con vì cháu  ,nếu ông có nhiều bạn thân thiết thì hẳn   chúng tôi sẽ  ngạc nhiên  lắm  !

Hoa  Tre,  người bạn của chúng tôi,làm mẹ đơn thân của  một lúc ba đứa   bé, rồi bây giờ lại  một lúc  làm   con  đơn độc của   bốn bà già-    hai má  Mười, Tư,   Cô  giáo Kê  và  người con ( nay cũng   gần bảy mươi của cô )  . Bà này  xem ra cũng ít  bạn,vì mải đầu tắt  mặt tối cho bảy  “ đấng ấy” thì  lấy thời  gian đâu mà  tơ tưởng đến ai. Tôi nhớ có lúc  cô  ta  chỉ  mới  vài chục  năm  làm  người,   cô nàng than thở với tôi  , nói vòng tròn ấy cho có   bài bản, chứ  em thấy   ba thứ - sinh, bệnh,lão- nó đã  ..dính chùm với nhau từ  khi nảo khi nào.  Tre   đưa cho chúng tôi xem   tấm ảnh chụp khi  làm hồ sơ  giáo  viên   ở  trường cấp  ba,lúc này cô nàng chỉ  độ hăm mấy, mà  ai nhìn cũng  kêu, cứ  như  gần…bốn chục.! Hay nói  không  khoa  trương,tuổi hăm bốn  mà  ngỡ  ..bốn hai ! Do Tre từng  hớt  tóc tém,nay  ra làm cô giáo, tóc phải để dài che  hai  tai ,rồi uốn ngang, quăn quăn , mặt mũi bên ngoài thì vốn  dửng dưng mọi sự,nhưng lên hình phải  nghiêm trang ,thêm  cặp  kính  cận  dày..  Hai bà má cũng  giật mình, ừ sao ngó  nó già đanh  vậy.  Tre  vốn chững chạc từ tuổi còn học  phổ thông,bà   bạn “ chèo   đò đưa  khách qua sông   của  tôi   “  thỉnh  thoảng  vẫn lên  giọng   khâm phục  : từ  hồi tớ  học đệ   lục, ( tức  lớp bảy  bây giờ  ), tớ   biết  nó, nó chỉ  độ  sáu bảy tuổi, mà  nhiều phen  tớ cứ có  cảm giác nó là ..chị hai tớ  ! . Khi không bế  bên  hông  ba nhóc tì, ngay lúc  vừa đi  học, ra  trường khi  con  đã  tập  tễnh vô mẫu giáo, má   chưa  kịp vô biên chế  mà  con thì ..biên lai  đủ  các món,rồi  biên..bản vì quậy phá !Nhưng   cuộc sống vốn công bằng.  Khi  hai   nàng,Tre  và   Bà  Bé  già, nhân  vật chính câu chuyện này,  cùng  học   nghề cô giáo, bà     đã   kinh qua   trường cấp  hai  mà than vãn: khi ấy, con   Tre là  ..má  tao. Bây giờ  đã   ngoài sáu mươi hai  mà   nom,thôi không dám nói là ..hai mươi sáu,nhưng mà   nhờ có cái vỏ trang phục lụa là,son phấn đậm đà, tác  phong của kẻ…biết  mình biết ta,  cho  nên   ra   vẻ  là…!Và   Tre  lên  chức  với bà chị  kia  : hắn  chừ  là  bà   nội,bà cố của tau ! 

Cho nên  bây  giờ,  bây giờ,có một người,gọi là  khách của quán chúng tôi,  vẫn không hề quên ông Bọ  dù ông  đã đi xa. Thật là  hạnh phúc . 

 Một  bà  bạn già của tôi, Bà  Bé  già,  cũng thế.Bà này  làm cái  nghề mà    thơ ca   ví von “ kẻ đưa  đò”.Bà  cũng không   hề có nhiều  người bạn.Mấy đứa chúng tôi,   không được bà này xem là  “ bạn “ mà  liệt vào danh sách “ người   qua đò” vì   có một lúc  nào đó, chúng tôi cũng  sẽ  ..có khác  gì   những  người   khách   năm nào .  Quãng   đời  thanh  xuân qua  nhanh ,quay  cuồng  chuyện  lý tưởng, lẽ   sống, hạnh phúc,mưu  sinh, rồi  bỗng cái quy luật nghiệt ngã của cuộc đời ,sinh ,bệnh ,lão,  ập  đến  .Tôi chứng kiến cuộc sống   của hai  người cha  và   hiểu dần cái   vòng tròn   kiếp  người  này.

 à

Bỗng dưng, tôi chợt liên tưởng đến  một rừng cây !


Một dạo   tôi   có  dịp phải đi về từ Dalat  đến  Thành phố Hồ Chí  Minh  vì  nhiều  lý do, đi  công tác  do cơ quan giao,rồi đi thăm  bố tôi mỗi bận ông vào đây mà  không có thời gian  lên miền cao  nguyên, rồi..nhiều việc khác.  Con  đường  nối hai miền  gần ba trăm cây  số là   quốc lộ  Hai mươi.  Đi  hoài,  nên quen, cứ  mỗi bận xe dừng lại,nhìn  bên kia đường là biết đang ở đâu.Tuy nhiên,khi  xe  vào hay rời khỏi “ miền ký ức “ thì tôi   lại thấy bồi hồi.  Huyện Tân  Phú,tỉnh  Đồng  Nai ngày ấy trải dài  gần như  một nửa của quốc lộ,  một trăm rưỡi cây số. Tên các xã  đều bắt đầu bằng từ Phú. Đó là    tên trên văn bản,còn  có nơi, người dân  vẫn quen với  những địa danh cũ. Khu thị trấn  Phú Hiệp, nhưng   vẫn còn bến xe,chợ mang một cái tên máu thịt với  nhiều  người- Định Quán .Hoặc là cách gọi theo  “ từng cây số”. Từ  thị trấn     , trung tâm  Huyện,nơi tôi công  tác   suốt  bốn năm,từ   ngay sau khi  ra  trường đến  lúc  cô bạn thân   quay về   phố học tiếp,tôi hồi  hương,  tức  về lại Hà  Nội,  đi thêm vài cây số,  có  một xã tập trung  nhiều  người gốc  Hoa,  vùng chuyên canh cây đậu tương của huyện. Người ta  ít  gọi  Phú Hoa  mà dùng cái mốc  bao  người cùng gặp  gỡ,cây số  115. Đi  lên  chục cây số,có   hai nhánh,một  vô  xã  Tà Lài, nơi sinh sống của   đồng  bào dân tộc  Châu Mạ, Stieng, một  nhánh   rẽ  vào xã kinh tế mới     Đồng Hiệp,thuộc xã  Phú  Điền, cư  dân từ   thành  phố  Hồ Chí Minh  về  rất  đông, thì ai nấy,cho đến tận bây giờ, vẫn  gọi chung  “ cây số  125” khi  trên bản đồ là  Xã  Phú  Lộc. Trường bà bạn tôi ở   ngay cây số  108 . Thực  ra   địa điểm trường nằm trên một ngọn đồi cao,muốn  đi  vào thì   đến  mốc cây số   108 bên tay phải, tính từ thị  trấn,tức  cây số  113 , thì  lùi   độ chục mét, tức là  “một không bảy ..lẻ lẻ “ rồi rẽ phải, thêm   một quãng cả hơn trăm mét, qua  một vạt đồi chia làm hai, bên trái  là  cơ   ngơi   Uỷ Ban Xã, bên phải làm Trạm Y  tế  xã, đi lần    xuống một thung lũng có    hai  vạt  nương,một của Uỷ ban, gồm cả  du kích,  công an  xã, các ban ngành đoàn thể   ,một của Trạm y  tế, đi  đến   dưới  đáy thung lũng  con suối nhỏ chảy qua,mùa   khô   thì  chả biết đây  là  suối,  may  là  có  một chiếc cống  bê tông  khá to nằm sừng sững   ở  đó,  rồi lại leo lên  ngọn đồi thoai thoải khác,   qua khu vườn rất   rộng,chiếm hẳn  một mé  đồi,  của  trường, chuyên trồng sắn và   rào bằng  chuối   làm  ranh  giới  giữa nhà dân mé  đồi  bên hai bên,ranh  giới với Uỷ ban  và Trạm y  tế xã, ,rồi qua  khoảng sân  mênh mông bụi đỏ,mới  đến  hiên lớp  học.  Bà bạn kể,hồi vừa  về  đây  nhận công tác, hành lý lỉnh kỉnh  - có nào chiếu,chậu giặt, ngoài túi xách hành lý -nên ghé vào văn phòng Uỷ Ban  Xã  xin nước  uống (Bài  học   ở  trường sư  phạm  là hễ  về địa  phương nhận công việc thì phải liên lạc được với chính quyền  ở đây,bởi  họ  có  mặt thường   xuyên    ở   nơi mà  người dân  luôn tìm đến,chứ  trường  học   có thời điểm   các thầy cô đi vắng,hiệu trưởng  cũng vậy.    

và nhân  thể hỏi thăm  lối   vào  trường,bởi anh xe lôi đưa  bà  khách từ  chợ Định Quán xuống,  khi  thả nữ  hành khách lạ này thì  hất hàm qua  bên  đồi,đó,  cái  trường  cô tìm  đó. Mắt hoa lên  vì nắng nóng,khát nước,mệt,cô giáo  trẻ  chỉ nhìn thấy  hai chiếc  cột gỗ tròn trĩnh,rất  to và cao ,có một tấm biểu  ngữ  vải  trắng  giăng  ngay phía   đỉnh cột ,chữ in   màu đỏ . Từ  xa   vài  chục mét  nên chưa đọc  rõ nội dung,thì hẳn là một cây khẩu hiệu   cổ động  nào  đó .Bèn  nhìn  qua  bên phải ,có một  đứa  bé gái độ  tuổi cấp hai  đang mệt mỏi ngồi chồm hổm  bên  một bờ  giếng xi  măng cao,  nằm  trên  vạt đất trống  xơ xác cỏ dại.  Cô giáo trẻ đặt   đặt   hành lý  xuống  tò  mò  lần  qua  xem. Giếng sâu hun hút,có thể người ta cho lồng vào lòng đất  đến  cả  chục   đốt  cống  xi măng,mỗi đốt  chừng một mét…Cô gái   thoạt tiên khom lưng cúi nhìn, sau đó thì  ngồi  bệt xuống,bởi  độ sâu thăm thẳm của  chiếc giếng bề ngang chỉ cũng một mét,  rất   chóng mặt, toàn là  những  đốt cống,mà   chả  hề có lấy một chút nước nào,ồ  không,có chứ, một  vũng toen hoẻn tận đáy, nhận  ra nhờ chút  ánh  nắng  ban chiều   vẫn hầm hập của miền  nhiệt  đới,và chiếu  gàu  nhựa bé tí  nằm nghiêng,  phần miệng có cán bắc ngang,cột một sợi dây dù  dài khá dài.Rất  lâu,cô   bé gái mới kéo lên  được   chiếc gàu nhẹ tênh,bên trong  chỉ  độ một bát  ăn cơm  con con một thứ nước   đùng  đục  như  nước vo gạo,  thận trọng mím môi  đổ thật khẽ vào chiếc thùng sắt tròn cỡ  hai mươi lít  đặt   cạnh chỗ  ngồi, mà   nước  bên trong cũng như dán vào đáy thùng.  Cô   gái từ  vùng  nương đồi cao  nguyên cuối  quốc lộ  Hai mươi  kia  đến,nơi  chập chùng những thác nước,chằng chịt mương  suối ao  hồ,  và  giếng   la  liệt  khắp vườn mỗi nhà. Giếng   đào   dưới thung lũng,  không xa  nhà nằm ven chân  đồi,nhưng nước  luôn  lấp lửng   miệng giếng,mà  khi  đào chỉ cần thả   vài  ba    đốt  cống. Còn ở  đây .. Cô bé  gái   đưa tay chỉ thẳng  ra  phía   sau  lưng,nơi có  con đường mà  người  khách vừa  xuống xe  lôi,bên  kia đường là lèo tèo mấy  ngôi nhàtranh,mở hàng quán, bán  cá mắm  và   những  món trái cây   bản địa.Nhà con ở đó.   Hỏi tên để  làm quen ,chủ  nhân vùng đất vùng đất mới này  đọc luôn ,dạ  Thiều  Thị Huệ,dạ  học lớp Sáu   B  bên trường. À,một  học trò vừa  làm quen,biết đâu  mai  kia gặp  lại mà . Nhưng  cô gái  trẻ,cô giáo  mới nơi này, đang  bận tâm  về  nguồn nước  ở đây.Hôm nào trước khi  đi  tham gia  chiến dịch  Xoá nạn mù chữ, giáo viên tập trung  về   Phòng giáo dục  Huyện,  một cán bộ Phòng  bảo ngay :  các  thầy cô  ở thành  phố về,sẽ    ngỡ  ngàng vì   huyện chưa có điện,trừ  khu  thị trấn  mỗi tối có máy phát từ  bảy đến mười  giờ, còn  nước thì .. có nơi phải  chịu  khó  mang  đồ  đoàn   về.. phố  giặt..Bọn tôi ở đây  hằng tuần  vẫn chịu khó lội bộ  xuống vùng  sông La  Ngà dưới   kia  tắm  táp.  Nhưng  những thanh niên thiếu nữ trẻ  nhìn nhau,ánh mắt  như thầm bảo : ối,nếu  người dân họ sống được thì  mình cũng sống được.   Bây  giờ  ,tạt qua dãy nhà  xây bên trái,  đây  là  cơ  ngơi thứ ba  mà cô gái  bắt gặp  là  công trình kiên cố được dựng bằng  táp lô,tức    cát  đá đúc thành từng khối  vuông chữ nhật  cỡ  cuốn vở,trên  dựng thành vách. Chứ   cả  làng bao quanh đều dựng lên từ  tranh tre nứa  lá.   Một người đàn ông  dáng vậm vạp,tóc hớt vuông vức trên  đầu,da đen  sạm,dãi  dầu, tuổi áng ngoài  năm  mươi, nói giọng miền Bắc  không pha  trộn,  lên  giọng rất nghiêm chỉnh:  A,trường  Phú Quảng hả  ?Ồ,phải đi thêm bảy cây số nữa  ! Lúc ấy  đã  bốn giờ chiều. Nếu    lếch thếch thêm   ngần ấy   chặng đường thì có thể  là   ..không  kịp     đến  nơi  trước khi  trời  tối !  Ngắm  nhìn gương mặt  lấm mồ  hôi  đầy lo  sợ của cô gái  trẻ,người đàn ông bật cười . Vừa khi  ấy  một thanh niên  chừng ba mươi, cao lêu nghêu như cây sào,áo sơ mi trắng  bốp, bước  vào .Anh này lắng nghe câu chuyện rồi   cười  hô hố,đầy thích thú . Ôi, trường Phú  Quảng nằm ngay sau  tấm  băng  rôn vải đó .Bảng   trường   rớt  lâu rồi,mà không  treo  lên ,vì  ôi,còn nhiều thứ   phải làm  lắm .Nghe nói sang năm lại đổi tên khác,cho  hợp với vùng dưới  kia, bên sông La Ngà. Bởi  vì     hai  xã  cũng   hợp làm  một.  Cô  bạn này  kể,mãi  về  sau,hai   cột gỗ cao to sừng sững như  những cây cột đình,được tháo đi,mà  chẳng hề có  trụ  nào thay vào,dù  ngôi trường mang tên khác, Cấp  1 và  2 Phú  Ngọc A ( trường  cấp  1  Phú  Ngọc B  nằm ở  vùng sông La Ngà ). Khi ấy,đặt  bước chân đầy bỡ ngỡ,lạ lẫm   và  không ít  lo lắng  về  ngôi trường  xa  lạ,một miền quê xa  lạ,hai cái trụ cổng hẳn đưa  về từ  những cánh rừng già     xa  xa   sau lưng  trường,  ,là   những vật  liệu bằng  gỗ  duy  nhất, vì   những  dãy  lớp học đón cô giáo trẻ toàn là những khung thép  lạnh lùng, cột hiên lớp,khung cửa, rui mè..Vào hẳn bên trong,cô phát  hiện   ra,ngoài hai dãy  xây bền chắc  kết thành hình chữ L,còn  có  một dãy  gỗ nằm mãi cuối sân,ở  phía bên trái,thẳng góc với dãy giữa  và  song song với dãy  ngang, tạo thành một khối chữ  U bao  bọc khoảng sân  vô cùng rộng,và gian bếp tập thể bằng tranh,cột   rui bằng gỗ, nên khung  cảnh vẫn có  nét thôn bản miền đất xa phố  xá.  Đấy  là   những   công trình mới  dựng thêm  sau    bảy lăm,do thầy cô  từ xa  đến,trường  lớp  lại  đông thêm .  Chàng thanh niên   giải thích  về  xuất  xứ  tấm  băng  đrôn “Nhiệt liệt chào mừng  đại biểu  về dự  hội  nghị “ :Bọn tôi  vừa tổ chức  hội  nghị,   chưa  kịp  tháo   xuống .À  ! Anh này  là   cán bộ   trưởng ban   xoá nạn mù chữ   xã. Cả  miền Nam những ngày vào  năm  1977  đang  nô  nức  thực  hiện   chiến  dịch  Xoá mù ;vùng Đồng Nai này , các   giáo sinh  trẻ từ trường sư phạm  về đây, trước khi  nhận nhiệm  sở,  đều toả  ra khắp mọi huyện xã, cô giáo trẻ cũng  là một thành viên. Tháng tám   mới có lễ tổng  kết trên Biên Hoà,sao xã  mình  .. A, thì  xã tôi hoàn thành sớm.  Viên cán bộ Bổ túc  văn hoá xã hớn hở,tự tin.Bên  chỗ  cô chắc chưa phải không ? Cô giáo này từ  xã Phú Lý  kế bên,lắc đầu. Cô   này và  một cô nữa,kẻ dạy môn  Xã hội, người phụ trách môn Tự  nhiên,  bất  ngờ được điều về trường,dù  hôm nay là  ngay  giữa tháng  Tư,vì  bất  ngờ có một cô   chuyển ra  Bắc,và  hai thầy thì  có ý định xin thôi việc.  Thầy   Đ.   dạy  Văn,thầy   Tr  dạy Toán,nhà trên miệt  cây  số  138,  cứ   sáng  đi, chiều về,    đôi  bữa ở lại.  Người thanh niên  cán bộ xã thì thầm,mấy ổng  xin thôi để  . ..đi  buôn lậu,mua  đậu  khoai từ đây về thành phố,rồi  lại  đưa các thứ  khác  về đây. Chợt chàng trai trẻ nhìn xa xăm,thì phải  thế thôi,chứ con  cả  bầy,mà  lương thì ..   Giọng đồng cảm    da diết  ấy  bởi vì chính anh  chàng này,   độc thân vui tính, nhưng đang  vò đầu  bứt tai  chăm hai đứa em trai mà không có bố mẹ bên cạnh, một học cấp Ba trên  huyện,một  tuổi cấp  một. Quyền   huynh thế   phụ,    lẽ  đời  vốn  gian  truân,đòi buộc  sự  hy sinh  rất   lớn ở   người anh  thay cha mẹ .  Nhà thầy Hường, nhân vật này có   cái  tên bố mẹ đặt cho từ một loài hoa rất đẹp và thơm,nhà   sát  bên Trạm y tế  xã,đứng ở  mé  hiên phía   đông nhà  trường, tức  là  trước sân mé  phải   tính từ cổng lên,    cô  trò bên này  bắt  gặp  hai  ngôi mộ đắp đất thật to, và mấy cây ổi  đã    quả  " cứng   thua  đá chút   đỉnh,   khi chín   muốn  ăn  phải  dùng dao  xén  từng  lát,chứ  không thôi là ..gãy răng, ổi  miền   đồi mà  .."phía  sau  nhà   thầy  cán bộ Bổ túc. Đó là nơi  an  nghỉ đời đời của  hai đấng sinh thành.   Giếng  trường nằm  mé trái    hai trụ cổng,  hơi gần suối, từ  đây, men theo  vườn mì,  rồi  qua  hàng rào chuối  tự nhiên, thì  đến hiên  sau nhà    thầy Cây Ổi . Cô giáo trẻ  buổi đầu  làm quen với  một học sinh có  dòng tộc thật lạ so với miền quê cô, họ  Thiều, thì     ngôi nhà có hai  ngôi mộ và vườn ổi lại  mang một họ tộc mà  mãi về sau,cô cũng ít  gặp,họ Cổ  Thế. Cậu em  út   nghịch ngợm   không   mang tên  một loài hoa đẹp  như ông anh  cả mà   là tên  một loại thực vật  nói chung,hay còn  có ý  nghĩa  gì  khi phiên ra từ Hán Việt,bởi  người Việt thường  đặt tên con  đầy trang trọng như thế. Hồi ấy chẳng ai có thì giờ mà giảng giải này nọ. Quả, tên của chú bé  học trò ấy, nay cũng hẳn đã   năm mươi, có thể là “ chắc chắn” hoặc “ ăn no”. Người em giữa lại có tên Hành, từ Hán Việt  nghĩa là “ thân cây” … Thầy Hường có lần vui  chuyện giải thích  như thế. Dù không thuộc biên chế  nhà trường, nhưng  vì việc  ban ngày ra  rẫy,  tối về,cơm nước  xong, sau khi   rảo một vòng quanh các  lớp Xoá mù hay Bổ túc trong xã,thì  người cán bộ  được gọi là Thầy  này tạt vào khu  nhà tập thể  trường,đôi khi chỉ có  duy nhất  một người, để cùng  chơi   vài ván  cờ.  Người giáo viên đơn độc này chính là thầy H., vốn là  một kỹ sư xây dựng, vừa tốt  nghiệp,được biệt phái sang  ngành giáo dục  một thời gian.Có  mấy  người bạn về   trường cấp Ba, còn thầy này về nơi này, dạy các môn  Tự nhiên cấp Hai. Chắc sang năm đủ thầy cô thì  thày ấy về lại Biên Hoà thôi. Thầy Hường tư lự.  Cả  cấp hai   lúc ấy   năm   lớp,chưa có  lớp chín, lớp  tám có   một, chỉ có  ..ba thầy,nên phải tăng cường các cô nữa.  Sang năm thêm hai lớp  sáu mới,  tất  cả   sẽ  là  bảy ,tôi nghe  phong thanh  sẽ có   chừng   thêm  chừng   năm thầy cô cấp hai về, vì thầy  Hiệu trưởng  còn coi  ngó  luôn trường   cấp một dưới chợ  La  Ngà... Vậy  nhà tập thể có còn ai  nữa  không ? Cô giáo mới dò hỏi ,lúc  chủ nhà  giúp cô khuân bớt hành lý lên trường. À,có ba cô cấp Một. Cô M,cô Ng, cô này sắp  làm dâu xứ này,cô kia mai mốt cũng về phố lấy chồng,vì anh chồng ghé thăm miết thôi. Có cô H thì  đang về  đẻ em bé. Ba cô này đều  người gốc Saigon. Chứ còn lại đều là  người địa phương.  Mấy chục năm sau ,cô giáo  ngày  nào gặp lại ông thầy “bông  hoa thơm đẹp” thuở nào.Vẫn nụ cười hềnh hệch,giọng  như  dính vào nhau,mà  nghe quen lắm,như  giọng Nghệ An quê cô,tui  giờ  ra đứng lớp  rồi. Đám học trò cũ của cô, khoe thay,thầy  Hường là Hiệu phó trường cấpMột trên chỗ 110 đó cô.Viên hiệu phó cười ngập ngừng  Mình từng đi  lính địa phương quân,khó vô Đảng,nên…lên đến Hiệu phó,là được.Mới có vợ gần đây,hai con còn  nhỏ.  Giờ trở lại con dốc có hai trụ cổng và tấm băng đrôn  “ Nhiệt liệt chào mừng đại biểu về dự hội nghị”. Một xã  nghèo nhất Huyện,mà   lại đi đầu trong một chiến dịch khá quan trọng ngày ấy,  diệt giặc dốt.  Thì cũng nhờ chú Hai  Viên bên chi bộ Xã đôn đốc.Là cái chú .. Phải,ông   vui tính  vậy đó,chứ khi vô việc thì đâu  ra đó.Nhà chú tuốt  sau  kia, vườn trường  đi vô mấy cây  số nữa.  Chú đã áng chừng ngoài năm mươi,nhưng cô con gái  mới độ mười một mười hai,bẽn lẽn,giản dị,giọng nói đặc sệt hồn nhiên vùng chiêm trũng Bắc Bộ.Tên cô bé cũng khó quên,Vũ Thị Lái. Do công việc của  một chị phụ trách Đội,ngoài   vai trò một cô giáo đứng  lớp,rồi chủ nhiệm,nên cô gái này có nhiều   lần  tìm đến nhà . Người vợ cũng  đứng tuổi,vì chiến tranh nên phải thế,ông bố nhẹ cười. Ông bận  rộn với  bao  nhiêu là việc của  xã,nhưng với  mọi hoạt động của trường,ông luôn  quan tâm. Khi cô  giáo này  được   cử đi học,  cô và     chị phụ trách  Đội mới tìm  đến ông  để  chào  “ tống cựu  nghinh tân”, ông vui vẻ và   một câu lảy Kiều của ông khiến hai cô giáo,vùng kinh tế,ngoài hai mươi, rất vui : À thì đây là Cô Loan,Loan đến  để Xuân  đi. Loan  Xuân,Xuân Loan thu cúc mặn mà cả  hai . Cách  láy đi láy lại vị  trí   tên hai cô giáo,  đã khiến hai cô  cảm thấy  ai cũng được  trân trọng, - và    cụm từ  "mặn  mà "        giàu ẩn ý,  không chỉ dung nhan,hẳn ông còn mong các cô   luôn  tận  tâm với công việc,với   người dân ở  đây. Nhưng tự đáy  lòng,  " mặn mà " mang ý  nghĩa  ám chỉ dung nhan   người phụ nữ,  khái niệm   dung nhan ngày ấy là điều các cô mặc cảm,nhất là  mỗi khi  về phố lớn,đi làm giấy tờ, hay ra  chợ mua sắm,bắt  gặp những ánh mắt có vẻ  tội  nghiệp,thương hại của   người nơi đây dành cho các “ cô giáo rừng”. Dạo ấy,tôi dù mới bén duyên đất  phương Nam này chưa lâu,nhưng hơn một năm  sống ở nhà thím  Toàn, một phu nhân  đài các, nên tôi cũng kịp  có   vài  bộ trang phục  tinh tươm,thời thượng  vào thời điểm  đó, sáng sáng lên lớp cũng có một chút  phấn son “ sương sương” ( trang điểm  nhẹ ) mà  mỗi bận    về phố lớn  vẫn thấy chạnh lòng.   Tôi  nhớ một  chuyện  nho nhỏ.Có bận tôi   về đây,bố  tôi dẫn đi chợ,mua cho mấy  túi tôm    hấp  sẵn, tức là luộc trong nước  muối, để chống  hỏng,  loại  tôm hạng ba  bốn thôi, tôi  đem biếu cô bạn này  một  túi,độ chừng  một cân.  Cô đem ra bày vào bếp chung. Bàn ăn có độ chục  người,món  ăn  “cao  cấp” này được  đánh  giá   rất cao,bởi nếu tính toán,so với giá  rau củ   mắm muối ở  đây,thì vừa  kinh tế  mà lại giàu chất   bổ dưỡng.  Dịp sau  một cô giáo  khác trong khu  nhà tập thể  về  phố cũng tìm món này mua đem lên trường.Mọi   người lại hoan hỉ dùng,nhưng..khi  cô dè dặt  đề  nghị “cùng chung chia” thì  ai nấy  yên lặng. Rồi có  người  lên tiếng sau một hồi cân nhắc, ừ thì là  rẻ,nhưng thôi, cứ  dì Hai (  dì cấp dưỡng) cho ăn  gì thì ăn nấy,vì tiền còn  để  dành về  thăm nhà,rồi ai    có điều kiện  bồi dưỡng thêm thì ..về nhà ..  Dù trường  nằm ở  nơi  không  có  bến  xe  và không  chợ như hầu hết  các  trường xã khác,thì cứ chiều chiều thứ bảy là ..khu nhà tập  thể vắng tanh. Sau này, khi Nông trường mía Phú  Ngọc mở ra,cùng với Nhà máy đường La Ngà,nơi này hàng cuối tuần   đều  có xe  đưa   công nhân từ đây về tận thành phố, đổ khách xuống  bên vùng Khánh  Hội,luôn  tạo  điều kiện cho “ thầy cô bên trường” quá  giang, thì việc “thăm nhà “ thuận tiện hơn xưa,  tạo điều  kiện cho các thầy cô ở   thành phố  có cảm giác " ăn   bát cơm trắng thấy   mồm  miệng  nhẹ  tênh "Vì  ngoài    đũa cơm   dẻo thơm còn có  miếng thịt kho béo ngậy,con cá tươi chiên  dòn,tô  canh chua bốc  khói.Còn ở đây, Nhưng hai cái nàng “ thu  cúc “ thì  khác.Kẻ cao nguyên,kẻ tận miền Bắc, họ chỉ về quê vào hè và tết, cô ở  vùng ngoài, còn mỏi mòn chờ hè mà thôi.  Sống ở nơi khô cằn nắng cháy,sinh hoạt dè xẻn,  quán  xá    thì  món  cá  khô  là  cao  lương  mỹ  vị nhất,  còn lại là  những  bìa  đậu, hũ  chao, những hạt  đậu phụng  rang,  và   những     thứ  quả   cây nhà  lá vườn người dân   đưa  ra bán, thì  mức độ “ mặn mà ..” cũng chỉ là ngôn từ. Cô bạn này kể,mấy chục năm sau  gặp lại   nhiều   học trò cũ, họ  phát hiện ra   có nhiều “ đứa  bạn học “    tuổi tác  không thấp hơn bà cô giáo là bao, mà ,có  người  buột mồm,trời, Bà  Tr chỉ thua cô  mình có mấy tuổi,mà sao ngó cô..già quá !Cô giáo ngồi  sượng trân,nói làm sao,thì có một anh chàng vọt mồm : ư  thì  như vậy mới là  trò,là thầy  ! Cô bạn có   lúc  bất chợt hồi tưởng về  những thoáng  kỷ niệm  đẹp ấy và không khỏi bâng khuâng.

Tôi  nhớ lần đầu  đi theo bà bạn   , khi  năm  học       thứ hai của  chúng tôi bắt   đầu,  độ tháng  chín dương lịch  1977, khi ấy cả  hai  vừa hai chục  xuân xanh,  ghé chơi để “trước lạ sau quen”. Nhà tập thể  là  một gian  cuối trong  dãy phòng  năm lớp,  dựng theo chiều ngang của sân, một dãy   gỗ song song,   kết  hợp với   dãy dài   chiều dọc sân, tạo  nên hai  dãy lớp  hình chữ U, cơ ngơi khang trang nhất Huyện này ngày ấy, vì   người ta mới cho xây trước ngày kết thúc chiến tranh có vài năm,chứ còn các trường  cấp   xã  khác của  Huyện đều cũ , có nơi còn  xuống cấp  , vì   đã trải  qua  biết bao mùa khói lửa .  Chú  Toàn  trước khi vượt biên   có lần hỏi tôi  và   bà  Bé   già  về vùng “đất mới “ của Huyện này,  vì  chú  rõ lắm,bởi ông từng là  một kỹ sư công chánh, từng tháp tùng  viên Quốc vụ khanh đặc trách văn  hoá Phan  Quang Đáng ( tương đương  Bộ  trưởng  )  đi thị sát nơi  này    từ sau  biến cố   mùa hè  1972,cho đến khi  vùng này,khu hành chính, các khu tập trung dân,  được  hình thành. Chú  kể  nhà  xây , giếng xây la liệt khắp các  thôn, là do công binh Mỹ và  Việt  hợp tác  làm. Cứ  khung sắt,cứ táp lô,cứ  đốt cống xi măng thả   xuống những bộng  giếng đào, không dựa  vào   địa thế,- cho nên  giếng ngay Trạm  y  tế   xã   mà  chạy  xuống gần   suối  như  giếng nhà   trường hẳn cô  bé  Huệ   nạo  chắt  được   nhiều  nước  hơn  -  mà  nhằm  hướng nhà dân,cứ độ chục nhà thì có một giếng, rồi chia hai  vùng,Nam đường,khu   từ  Quảng   Trị đến,Bắc  đường, đối diện với   trường,  dành cho cư dân gốc  Quảng Nam. Nhà tập thể nữ     trước kia hẳn vốn là khu văn phòng,bởi   người ta chia gian  buồng làm hai,   thông thường bằng một cửa ra  vào , nhưng tấm  tôn   làm cửa chỉ có  một nửa,  người  ngồi trong có thể thấy rõ chân cẳng kẻ đứng bên ngoài,  và cánh cửa này  có thể mở bằng ..vai,  cứ ẩy  nhẹ là qua, rồi nó tự  khép   :  trong là   nơi làm việc của Ban Giám hiệu,nửa  ngoài, là  nơi giáo viên   gặp gỡ,có thể như vậy. Bây giờ,nửa  ngoài là  buồng cho hai cô, bên  trong có tới  năm cô ! Tôi  được dẫn vào phòng có ba  giường,   hai   bộ bàn học trò kê lại làm bàn làm việc, rồi kệ  để  sách vở giáo án,còn  tư trang các cô giáo thì   đun vào gầm  giường. Khách cứ   thả dép,phủi chân, vì vừa lội qua  hai con dốc đầy bụi đỏ,    ngồi lên  giường, và   được mời ăn khoai  mì  luộc, chuối chín buồng, đặc sản vùng này, có sẵn ở  vườn trường. Qua khung cửa sổ mở rộng,  tôi  nhìn ra sau , có một vạt đất khá rộng, được lên liếp,  rồi bên kia là   một dãy nhà tranh, thấp thoáng bóng trẻ con nô đùa,phấp phới những   tà áo phơi,nhà dân.   Xa nữa là ngọn đồi  110, tức là   đứng trên ngọn đồi  cách đây hai cây số, thì cũng sẽ thấy..tôi  bên cửa sổ đang nhai khoai và chuối. Trường tôi nằm ở thị trấn,từ  Đồi   11 0   thả dốc thêm ba cây số nữa . Về sau này,cứ  mỗi  bận  cuốc  bộ, mà  chủ yếu là phương tiện di chuyển chính, đến đây,thì cô bạn biết hoặc là Huyện lỵ phía bên kia,  hoặc là  trường cũng rất gần. Tôi chú ý những   chiếc  lá  khá to  xuất hiện đều đặn trên  từng  luống đất. Ồ , đất trường, mà mùa hè có ai  đó,hẳn là  du kích bên Uỷ Ban xã, vào đây ,  tranh thủ những ngày mưa,  mà trồng bầu bí . Ừ, đất đồi thì  thả bầu hay bí là hợp nhất. Bầu thì cần giàn,chứ  bí ngô cứ thả là nó bò,mà các cô thầy ở đây lại có  đọt,có hoa để  ăn,không phải mua rau, bởi rau vùng này hiếm lắm, người ta ăn bắp chuối, măng rừng, rau muống  dưới  suối,hái đọt khoai mì làm dưa chua,mưa thì có mướp, bầu,bí.. Nhưng khi  nghe tôi lên giọng “ cán  bộ Phòng “ ( tôi  tá túc bên Phòng Giáo dục Huyện ) thì cô bạn  cười, chế giễu:

-  Đúng là dân  cày nhựa đường . Thử lại gần coi là bầu bí hay  là ..bì bấu !

 Tôi theo cô bạn ra hiên,  vòng qua  khu nhà bếp bằng tranh,rồi mới ra đến vườn,chứ  vèo qua cửa sổ thì nhanh lắm,nhưng các cô máng đầy áo quần  bên ngoài   để phơi, vì có học trò đến, phơi đồ đoàn phụ nữ ở đó ,dù cô  nào cũng  ý tứ,không ai bảo ai,  choàng qua  bên ngoài của chiếc móc   phơi một manh áo khô,  cho có   thẩm mỹ . À,lá rất dày, một mắt xanh,mặt kia  xám,đường gân rất to, mà nhựa màu tím dính chặt vào tay.Ồ, phải rồi.Tôi nhớ có lần  đi chợ mua dưa  chua,thứ dưa muối từ cây bạc hà,mọc ở vùng  sình  quanh thị trấn, người ta  gói bằng thứ  lá   khá to này, to bằng hai bàn tay,lại dày  hơn  cả lá chuối,  nhựa cũng  có màu tím . Tôi đứng thẳng lưng,nhìn quanh. Tại sao lại  trồng  giẻ tỵ ở đây nhỉ ?  Hẳn người ta muốn biến khu   đất  dành cho  học  sinh canh tác, làm rừng cổ thụ chăng ?

  Thế   rồi, qua năm học  đó, nơi nào lại được  học sinh  trường  trồng khoai sắn, gây     quĩ Đội .

 Ấn tượng của  tôi   về khu rừng của  một loại cây ở vùng đất  này  ngày ấy thật xa lạ với tôi là  ngỡ ngàng. Khi đưa  tôi về đây nhận công tác, một ngày ngay sau tết Âm lịch, bố tôi rủ tôi:

- Ta đi ngược  lên trên này, độ chừng chục cây số nữa, (  vùng  xã  Phú  Lộc,cây số  125 )ngắm rừng  cây gỗ tek cho biết.

 Chú  Trưởng  phòng,vốn là  người cùng quê ở Hà  Tĩnh, khi  lên Hà  Nội học cũng  thường ghé nhà  bố chơi, có khi  nán lại ăn cơm, nên thân thiết lắm.Ông này kêu:

- Ôi  chán lắm, đang mùa nắng khô, cả rừng  trụi lá, trơ cành, thông thốc,  toàn bụi đỏ,chứ có gì mà ngắm.Thật đúng như vậy.  Cả  một vạt rừng hun hút,dài đến vài cây số, chạy suốt ven  quốc lộ,chỉ có một màu xám  khô của cây chết.Lá  cong lại, rơi đầy   nền đất cứng, thân không to  lắm, cao vút chĩa  ra  vô số cành xương xẩu, gió  thổi qua không buồn lay động. Chúng tôi từ đường  nhựa,   nhảy qua một con mương nhỏ, cỏ dại  xác xơ dưới  cái nóng hầm hập của miền đông đất đỏ mùa  khô, là chạm vào mé  bìa rừng. Tôi chả  buồn ngắm nghía, trong khi bố tôi  cứ  đưa tay sờ nắn   tấm thân cao lòng khòng của  loài “ cây chết” này,suýt  soa:

- Thứ   gỗ này con có biết  người ta  dùng làm  gì không ?Này, cao đẳng về  Địa lý mà  không biết thì quá dở nhé.

 Qua  những người dân ở  đây,tôi mới biết  đây là  rừng  gỗ  dùng làm báng súng.Khu rừng này được trồng từ thời bà  Ngô Đình Nhu, em dâu  ông Ngô Đình Điệm,tổng thống miền Nam ngày ấy.

Bận rộn với công việc  nên  tôi không có  dịp   đi qua đây.Mùa hè,Huyện tổ chức  cho giáo viên  học chính trị tập trung ở  miệt trên, ngay cây số  138, từ nơi tôi công tác, thị trấn, và  cô bạn  ,ngôi trường  mang nhiều ký ức quê cũ của cô nàng,  đều đi qua khu rừng này.Thật ngỡ ngàng. Cả một màu xanh mỡ màng, dịu mát  đập vào mắt.Vô vàn những  chiếc lá rất  to, gấp   năm bảy lần  chiếc  lá mít, lá   đa, mà  ở  quê tôi,bọn   trẻ con  vẫn  hái   để   biến thành  hình những con trâu, nghiêng nghiêng bám đầy kín  những cành    còng queo  hôm nào.  Trong đầu tôi lại hiện lên   hình ảnh   một  đàn trâu    có  thân  nằm dọc,lá   to, và đầu nằm ngang,  lá nhỏ  hơn,   màu xanh bóng nhẫy,   bốn chân và sừng là  những  cọng tre chẻ  nhỏ như tăm, cọng  rơm  khô ,và bên tai văng vẳng bài hát “ Trâu lá  đa “.

  Lá  đa  rụng,bên bờ ao,em  biến chúng, thành đàn trâu.Trâu lá đa,bé tí tẹo,cuống sỏ  sẹo,  sợi  rơm mùa . Que  bắc  vai, trâu đủng đỉnh, đầu  đung đưa,hai tay  vểnh .  

   

.   Giọng bây giờ cao lên,đầy  hứng  khỏi của   chú  bé   đưa  trâu  đi  cày  một  nơi đầy cỏ may  : Cỏ may dầy chớ  rối mắt.  Tiếng cậu  bé  thúc  giục con trâu cất   bước :  Sang lối này! Vắt ! Vắt !  Vắt !




Một bài hát từ  những câu thơ  chỉ có ba từ,mà cả  một “thế  giới trâu cày” rùng   rùng  hiện ra.
 Lớp lá khô rơi phủ mặt đất đã mục đi,tạo thành một thứ  phân bón  tự  nhiên. Cứ xanh lá  vào  tiết mưa,khô  cong rồi chết  khi gặp  nắng hạn,và lại  xanh lá .. Cây nhờ thế mà  vững chãi,bền bỉ,kiên gan cùng tuế  nguyệt. Có  dịp gặp lại Bố tôi,tôi đem  chân lý này ra  kể lể,thì ông cũng trầm ngâm: Phải ,kiếp  người cũng thế.Có vinh,có nhục, có thăng rồi giáng,có xuống rồi lên, thì  cuộc đời mới ý  nghĩa .



Bây giờ,tôi muốn đem điều này để an ủi bà bạn, một  người chỉ biết sống vì  người khác, và bây giờ thì  lại bị chính những con  người ấy quay lưng. Tôi hiểu  nhiều người thân thích trong nhà  mải mê  đi tìm kiếm điều mà  thời  tuổi trẻ  bà này hăm hở.Hẳn nhiên họ đã đặt lên bàn cân,đâu  là  công danh, tiền tài, đâu là  nỗi niềm của một bà lão mà với họ, cứ như  một vị khách qua  đường . Cây khô  rồi xanh lá,  xanh rồi lại khô, và  khi không thể xanh trở lại,thì  lúc đó tấm thân còm cõi lại được tận dụng cho một việc quan trọng khác lớn lao hơn,vì nghĩa lớn .

Thế  nhưng, một nơi xa  lạ mà lại rất  gần. Người bạn kể ,lúc lẽo đẽo vác chiếu, xách chậu  và hành lý,cùng đi theo viên cán bộ Bổ túc  văn hoá xã, tìm đường lên đường, cứ   ngỡ  là trở về tuổi   ấu thơ, đi học  ở trường Trung  Bắc trong thôn.  Vì  trường cũng nằm   trên  đồi  cao,từ    đường cái quan đi vào  cũng qua hai  ngọn  đồi,  qua  suối,qua  những vạt   nương  trồng rau củ,có mùa trồng  khoai  bắp .. Quê   hương  nơi xa ấy bỗng trở  về thật gần . Và  bởi giọng  Quảng Trị của   người cán bộ  Bổ túc văn hoá này  có âm  hưởng không  xa  lạ với   giọng Nghệ An của quê  cô .Vì vậy mà    bốn năm ròng,bao kẻ đến  người đi từ  mùa xuân  1977 ấy, cô giáo kia vẫn cứ bám lấy.    Vì   một giọng  nói cũng   dầy âm  sắc  vùng  biển  Bắc   Bộ  cứ    luôn vẳng  bên  tai :khó khăn  đấy, nhưng  có  một   người trên cao kia  luôn theo dõi  và nâng  bước chúng ta . Ông  bố  đỡ đầu Minh  Tiến từng  là   một Linh  Mục   Tuyên  uý   của   một  sư   đoàn bộ  binh gần  nơi này. Người em của  ông  cũng từng  làm  Phó  Quận Trưởng  quận Long  Khánh,   ngày  đó  trung tâm quận   là  vùng  Cây số  138   hôm nay, và   một  người con tinh thần của   ông   linh mục  luôn  nghiêm khắc  như  một ông  giáo   dạy  Toán,   ở  trường cấp  Ba,  mà  Hoa Tre  và  Bà  Bé  già   gọi là  Anh  Chuột Đen   cũng thường  xuyên  ghé   nơi này,dù  khi đó  viên Phó  Quận   chưa tốt   nghiệp    chức   Đốc  Sự.  Thế  nên  đây  là nơi mà có  nhiều con  người "xin nhận làm quê  hương, dẫu cho  khó thương " .Có hai cô  đã  gắn bó với vùng  thiếu nước, thừa   củi và  đàn trâu lá đa  cũng ngày ngày rùng rùng đi qua, cô Ng.   Và cô L., làm dâu,lập làng, sinh con  đẻ cháu ở  đây. Tôi  đùa,   cứ   lưu luyến vì  vừa đến đã có  bao nhiêu  người  nghênh đón, cô bé  đi chắt   nước,ông Bí thư Chi Bộ  Xã, ông   cán bộ Bổ túc  văn hoá,rồi ... cổng trường còn ..Nhiệt liệt chào mừng  nữa..Chứ tớ thì  chả có ai . Nhất  cậu rồi,đòi gì nữa .

Hôm nay hai chúng tôi , Bà  Bé  già  và tôi, đi thăm một người bạn cũ đang chăm cháu bị ốm ở bệnh viện. Ra  cổng,lại gặp một chị bạn khác,cũng từ khu thăm bệnh ra.Chị vừa   dựng được một cơ  ngơi sau bao nhiêu năm làm lụng nhọc nhằn.Nhà có  lầu,một mở      cửa hàng tiện lợi như    shop của Bà  Thanh và tôi,bên kia thì cho  người ta thuê, bán đồ điện nước,nông cụ.. Khu trệt gồm  buồng ngủ của ba chị em, người chị  đã   bảy nhăm,hai cậu em cũng  ngót ngũ tuần,bị tâm thần nhẹ, và  nhà  bếp.. Nhưng chủ lại ngỏ ý muốn thuê luôn một phòng trệt để làm kho,vì  hàng điện máy khá cồng kềnh,bề bộn.Thế là  nhà bây giờ  chỉ có     hai phòng, trên buôn bán,một bàn thờ nhỏ,dưới thì   nghỉ ngơikiêm  chỗ  bếp núc luôn.Ồ ăn nhiều chứ ở thì bao nhiêu. Ai cũng bảo vậy khi  kéo đến ngắm  nghía cơ  ngơi của chị . Chị mừng vì  vay tiền  làm    được ngần ấy gian, thòi ra một nửa  ngôi nhà cũ, bán đi vừa đủ trả nợ,còn dư  thì mở gian hàng,rồi  người ta   tìm đến,ký gửi,mình bán lấy  lãi..   Dù sao cũng đỡ  vất  vả,thiếu thốn  so với  dạo  cứ thấp thỏm rắng  tuổi mỗi ngày  một cao mà  không biết đến bao giờ mới … giã từ cuốc liềm , gồng gánh ! Tôi thắc mắc,sao không bán  nửa ấy   trước  rồi làm nhà   sau, thì chị thở ra : Hai cậu em  đâu có chịu.Do trước đây  nhà  dài lắm,như  một dãy trường  học,bởi nhà ven chân đồi, ông bố thấy đẻ lắm con, mà mình có nghề mộc,nên  cứ   cuốc đồi,rồi kéo dài nhà ra, ước mong mai kia  các cậu cứ cưới vợ về, là có nhà ..Kiểu nhà dài của  người dân tộc.Ừ,mà rồi ông mất  bị mắc bệnh hiểm  nghèo , thế   là  mấy chàng con   cứ  mỗi  kẻ  cưới vợ, lại cắt một khúc đất bán đi,theo nàng về  dinh  mới  . Bốn người cùng  cắt,  thành ra còn  ngôi nhà bây giờ ...Hai đứa em  út  bị  chứng “học chậm”từ thuở hết  lớp năm,chúng nó  bị ám ảnh khi có   người lạ kéo đến đo đạc, rồi hôm sau thì gạch đá đổ ầm ầm, và  mấy cây bơ    sau nhà  bị đốn tận  gốc, nên  hễ thấy ai cầm  thước đến  là  rượt  cho  khách bỏ chạy. Cứ   người này mách  người kia, nên  riết rồi không ai dám tìm đến.Hai  đứa em  đuổi khách vì chúng  nó  còn lo người  ta  có ý đồ đốn  hai cây xoài sau hiên bếp, người chị  cười  mếu máo .  Một cô em gái lấy chồng miền Tây, trồng   để kỷ niệm.Cứ  nghĩ đất cao nguyên giá lạnh này .. vậy mà trái lúc lỉu .Quả to,chín thì   vẫn mơ mơ vàng, ăn ngọt thanh thanh,  không  thể  sánh  với  các  loại  xoài  “có thương hiệu”, bán không có giá cao, nhưng người ta vẫn hỏi mua vì  bày lên  bàn thờ rất đẹp.Một mùa như thế cũng kiếm vài tạ, mà có quả quanh năm.Ồ,hay quá ! Trong hội tu “bụi đời “của chúng tôi  suốt mười  lăm năm qua, từ  1996 đến  cuối 2012,thì chị  chủ nhà mới này  lớn tuổi nhất, gia cảnh bi thảm nhất, và ông bố đỡ đầu là Linh mục Minh Tiến lại quan tâm nhiều nhất. Vì chị ấy còn đèo theo hai “vệ sĩ” mà với chị, là những Giê-su áo trắng.- Vậy khi  dỡ nhà cũ để xây nhà  mới  hai  bạn ấy thế  nào,không phản ứng  à?Tớ  phải đi thuê trọ   một tháng,   hai anh chàng  lần đầu tiên trong đời được..leo lên lầu  nhà  gạch  thì  sướng mê tơi,  vì tớ  bảo, bây  giờ thì chúng mình ở đây,  dông bão không sợ  dột,     sương   gió không  ngại rét.

Ồ có  nhà mới, lên chức chủ cửa hàng,có nhà cho thuê nữa,  thảo nào..

Hiếm khi chị  được thong dong thế này . Ôi,có đâu !Bà cụ thông gia  nằm viện,mai xuất viện rồi, tớ mới ghé thăm được ,thật may.

 

Chờ nhau  dắt  xe ra đường,chị  bỗng rủ rê :

- Rảnh thì về nhà tớ  nấu  món  gì ăn nhé .Tớ có nhà mới mà chưa hề tân gia gì cả !

 Chúng tôi hưởng ứng ngay : Không tân ..da,mà là tân ..thịt hoặc  cá,bún !

Ừ,hai cậu em khoái món bún cá,mà tớ bận quá,bữa nay mới rảnh một tí.   Những năm tháng tu  hội chúng tôi còn sinh hoạt chung,mỗi bận Linh mục Minh Tiến từ  Pháp  sang, đều  chọn nhà chị  để gặp  gỡ  từng  người, giúp  giải quyết thấu đáo  mọi “ nan đề “ của từng chị- mà  bọn  độc thân khó tính của chúng tôi hồi ấy cũng lắm  nan đề  vô  vùng - rồi  tổ chức chiêu đãi  một vài  bữa.  Chúng tôi hiểu,ông còn muốn  báo đáp hai vệ sĩ của chị chủ nhà .  Nhà chị  thật đơn sơ, chỉ có bộ bàn ghế xưa,một chiếc bàn nhỏ,bốn chiếc  ghế, khách cứ  trải chiếu  ra   ngồi .Ngôi nhà  gỗ cũ  kỹ,  cửa  đóng  triền miên,nên   góc nào cũng  có mùi  ẩm mốc . Nhưng  khách không nề hà . Hai cậu em thích món cá,nên thực đơn  chung cho bữa tiệc họp mặt là  cháo cá, rồi  bún cá,hoặc cá cuốn bánh tráng rau sống ,   về sau có thêm món lẩu   cá  nữa . Chủ nhà   mưu  sinh bằng  nghề vác cuốc liềm đi dọn cỏ thuê cho các chủ vườn,kiêm nghề đan áo len thuê.Mấy năm gần đây,chị  đổi qua đội trồng  rau hoa trong nhà  lưới,đến vụ thì đi cắt hoa,đóng hoa.  Có mùa ba chị em  xuống các  huyện,nơi những người anh,các cô em lập nghiệp,đi  hái cà phê  thuê.Hai cậu em  cũng từng đi  cuốc  đất cho chủ trồng rau, đi thu hoạch và gánh rau thuê, tức di chuyển rau từ vườn  ra  bãi tập kết để  bốc lên xe,nay thì  có nghề đi  nhặt rau,tỉa rau củ cho  các quán ăn,đi rửa chén bát,có lúc đi rửa xe thuê,tết đến thì đi sơn hàng rào, hay dọn dẹp nhà cửa cho khách cần. Bố  đi về mãi  miền xa   xăm ,bà mẹ  giao các em cho chị lớn coi ngó,bà phải  ra  phố  giúp việc. Hai ông bà chủ là  những     người coi ngó  cả  chợ cá  đưa từ   vùng biển Phan Rang, Phan Thiết lên   nên hàng ngày  sân  chủ  không thể nào thiếu hàng  giỏ,hàng thùng cá xếp chờ chuyển đi. Bà mẹ làm bếp  nên chọn những  mớ thuộc diện “ phân loại” chế  biến thành nhiều món, tuỳ loại cá,  kho keo, chà bông,hay  chả… nên từ  bé  hai  đứa  trẻ  suýt  soát tuổi nhau này   vào ra là  có   sẵn cá  các món,lâu dần khiến mấy chị em có khi  quên  việc cần phải đổi món,mà cũng vì tiết kiệm. Công việc  chân tay, gần cỏ cây hoa lá,nên tâm hồn họ  thanh thản,lặng lẽ  đón nhận mọi vui  buồn . Bây giờ có hàng quán,thì cuộc  sống hẳn có thêm chút sinh khí . Chúng tôi  hỏi đùa,giờ thì “ giã từ  cuốc liềm   gồng gánh “ thôi nhé. Chị chủ nhà cười  nhè nhẹ. Bà bạn vui vẻ :tớ có Đu Đủ bên cạnh,nay có Xoài  ngon ,thế  là mong không  chỉ tết mà  ngày nào cũng “ chẳng giàu thì  ít  nghèo,ba mươi tết có thịt treo trong nhà”. Đủ- Xài là được !

Hôm ấy đã gần cuối năm dương lịch ,tôi chợt nhớ ra:

- Hình như nhà chị có tiêu chuẩn được tặng quà  tết tây của chính phủ đó!

 Chị ngỡ ngàng: Thì mỗi tháng..

- Không,  đây là quà tết mà .

 Bà bạn chen vào :

- Trên đường đi, ta  tạt vào Uỷ ban hỏi thử xem.

 Bà này  rất ấn tượng về những kỷ niệm đẹp ở đây.Dạo  được nhận tiền  Lễ Quốc Khánh,bà này bỏ lỡ,tìm đến  Phường thì được đón tiếp rất  tử tế.Một cán bộ Trưởng phòng văn hoá  Phường   còn gọi   lại hỏi han sau khi bà cụ đã  được trao quà và ra về. Chả là  lúc loay hoay  tìm đầu mối để  liên lạc trên mạng, thì  được cán bộ Phường giới thiệu đến  viên  Trưởng phòng này.  Bà cụ kể,bạn ấy hỏi tớ  đã nhận được tiền chưa,  đến và đi thế nào,có cần thì  các bạn bên Phường sẽ  hỗ trợ. Hai từ này ( hỗ trợ ) tớ chỉ  nghe khi ..mua hàng online.Vì có qua có lại,chứ đằng này,kẻ đòi hỏi là tớ. Vì  vậy mà  bà cụ,vốn ít được quan tâm,thấy  bồi hồi.Bà kể có  lần đám học sinh cũ ở Đồng Nai -cái  trường  Phú  Quảng  chào mừng  đại  biểu ấy..ghé thăm,mời cô giáo cũ  đi liên hoan với họ.Tối khuya  họ đón xe cho  bà lão về một mình.Khi bà này  vừa vào nhà,thì  anh  lớp trưởng Thiều Quang Lâm điện đến,nhẹ nhàng mà chân tình,hỏi cô đã về đến nơi chưa,có gặp trục trặc gì không ?Bà lão bần thần . Tôi đùa,thì  bởi ngay lúc  vừa đặt chân  ướt chân ráo đến,   đã  được  ..cổng trường  ..nhiệt  liệt chào mừng rồi  . Vì bà nhớ có mỗi một  người trước đó cũng  từng  gọi điện thăm chừng,khi  bà rời buổi liên hoan ở nhà chị Cây Xoài này, về nhà.Nhóm mười mấy chị, có  người sắm xe gắn máy  vì công việc,sau  buổi gặp gỡ thì họ còn đi công chuyện,bà kia cứ thong dong đến và về bằng con ngựa sắt cà rịch cà tàng của mình,hẳn vậy mà ông bố già lo lắng, quan tâm.Nhưng cũng khiến đứa con giàu cảm xúc   bồi  hồi . Bây giờ Khang,cán bộ Phường lại hỏi han ,thì bà già  xúc động, không có gì lạ . Nhưng tôi trân trọng.Tôi giành lấy việc “ đi hỏi quà”cho chị  Cây  Xoài. Ở khu tiếp dân một ngày trong tuần khá vắng vẻ, chỉ  có  vài   người làm khai sinh, tôi trờ đến quầy có một cô gái  nom rất  trẻ.Vừa lúc ấy lại có một  người đàn ông  trạc ngũ tuần, ra  vẻ như cán bộ ở đây, bảo cô  gái :

- Con in  văn bản  ra cho  cô này .

 Bởi tôi xưng tôi  là  giáo viên của  Phường,đã  nghỉ hưu, đi hỏi hộ diện được quà tết.Và lúc cô   kia loay hoay in,bôi những chi tiết cần thiết,tôi xin  số  điện thoại của cô, khoe thêm tôi từng được  Anh Khang ở đây giúp đỡ nhiệt tình. Tôi còn tò mò, anh ấy bao nhiêu tuổi,có mấy cháu rồi.Ồ,bốn mươi, hai con, tuổi đã chững chạc nên   sống tình cảm  thế đấy.  

 Sau buổi “ tân cá “chúng tôi ra  về.Bà  già  này  đã lần mò  vào nhà dưỡng lão, chỉ  vì   tai ù đặc, mắt thì mờ  mịt, rồi lại  bò về ,vì nơi này  quá  nóng ,dù đang vào  đông,  và cái chứng    khó   ăn khó ở của bà  già,  nhưng  lại phải  vào  ở nhờ nhà  má con Vân Thanh  ít lâu, chờ  tìm được  một "cộng sự " . Vừa  thả bà kia vào trong sân,thì có tiếng  chuông điện thoại.Chị  Cây Xoài gọi lên, sao rồi,an toàn chứ.Chả là có chút rượu dâu.Một hớp ngọt như xiro thôi mà .  Tôi đùa, chị  học ông bố Minh Tiến bao giờ thế ? Chị  kia ngạc nhiên:ối, đấy là  lẽ tự nhiên,em à !

Vâng,tự  nhiên.Nhưng để  thực hiện bằng cả con tim thì không hề tự nhiên bao giờ !

 Tôi muốn an ủi bà bạn,dù  có bao nhiêu người gần mà vẫn xa, thì vẫn có bên cạnh mình biết bao kẻ xa mà vẫn rất gần,nên hãy cứ lạc quan  mà sống nhé .

              GIANG ĐU ĐỦ.

             ( Dalat ngày 12.1.26)   

 

 

 

.