Kính dâng hương hồn chú Võ Hoa và các liệt sĩ ở Côn Đảo.
Viết để cám ơn Thầy NVL.
Đối với những người dân Dalat buổi ấy,ngày Ba tháng Tư năm 1975 là ngày hoà bình .
Dalat những năm trước bảy lăm là thành phố đầy lính tráng,mỗi chủ nhật bóng dáng những chàng sinh viên sĩ quan của hai trường quân sự và chiến tranh chính trị lớn nhất miền Nam lại xuất hiện khắp đường phố.Họ bảnh bao trong những bộ lễ phục trang trọng màu cà phê sữa ,mũ kê pi, áo may kiểu veston,cầu vai tua đỏ và đen, cứ nhìn để phân biệt đâu là các vị “ tránh vợ bé quyết giữ vợ nhà” ( Trường Võ bị quốc gia Việt Nam) và “ cho tôi chút tình “ ( chiến tranh chính trị),nhưng từ sáng 23 tháng Tư năm ấy, hai má dẫn tôi đi sắm một bộ đồ đẹp,trước đó bọc lên khu phố có nhiều tiệm vàng,- đường Thành Thái,con đường dịp ngày đầu năm tôi mới đến, vì tôi lỡ quên chiếc nón mới tại bảo sanh viện Phan Lạc Giảng,mé Hàm Nghi, nay là đường Nguyễn Văn Trỗi, mà cả hai đứa, tôi và chị Bé chạy như ma đuổi, chạy từ rạp xi nê Ngọc Lan cuối đường cho đến giáp đầu Hàm Nghi, giờ già lão, bước bộ qua thấy sao mà xa, hồi đó chân cẳng con nít chạy thiệt là khoẻ- sắm một chỉ vàng, kết quả của nhiều tháng ngày làm lụng vất vả của hai má.Khi trở về,đi lên con dốc trước rạp Hoà Bình, nhìn xuống khu nhà kính mé cổng chợ, nay là đầu đường Lê Đại Hành, từ sau khách sạn Mộng Đẹp, có dạo tên là Mô- đéc, nhưng chính phủ thấy có chút hướng ngoại nên bắt đổi lại- Chú Đa ( tên chú Võ Hoa ngày ấy ) có một cảnh chụp trước nhà hàng Queen Bee ở Saigon, rồi lại một cảnh cũng đứng y chang chỗ cũ, mà bảng đã đổi ra là Quên Đi. Tôi nhìn hai ảnh, thắc mắc, thì chú bảo : đổi cho ra cái kêu của người Việt mình mà - nhìn qua bên kia đường, mọi khi giờ xế chiều luôn có mấy chiếc GMC bít bùng đón những chàng sinh viên tập trung về lại quân trường sau một ngày bát phố,thì bốn bề chỉ có khoảng không tĩnh lặng, xa xa là làn nước Hồ Xuân Hương lăn tăn gợn sóng . Chỉ có những đám cỏ vàng cắt sát gốc lơ phơ trong gió làn gió lành lạnh của chiều phố núi. Má Mười buột mồm:
- Ủa, bữa nay có phải chủ nhật không, mà thấy chỗ đó trống trơn .
Má Tư cũng lặng lẽ nhìn, thái độ của má cũng có vẻ đồng tình. Sau đó ba má con tìm đến bến xe Lam ở đầu đường Hàm Nghi, là những hành khách cuối của chuyến xe chiều .
Không ngờ đó là những hình ảnh báo hiệu một thành phố yên tĩnh chờ giông bão. Bởi từ sau đó, lớp lớp cư dân phố thị êm đềm này, có rất nhiều đứa là bạn học của tôi, bố mẹ chúng là chủ nhân những hiệu buôn , sạp hàng,hoặc công chức,nhân viên các trường quân sự, ùn ùn thuê xe chạy đi “ lánh nạn”, rồi cao điểm, ngày cuối tháng ba, đầu tháng tư năm ấy, hai trường đào tạo sĩ quan lớn cũng rút quân về Saigon. Họ đi theo đường quốc lộ 27 thay vì quốc lộ 20,náo loạn cư dân vùng Trại Mát, Cầu Đất ngày ấy, để ra Phan Rang,Phan Thiết,rồi mới vòng đến Long Thành , gần Saigon.
Và ngày Ba tháng Tư,bóng dáng những chiếc áo xanh màu cỏ,chiếc mũ cối,chiếc súng AK đeo vai, đôi dép râu.. xuất hiện.
Ngôi nhà tôi trọ ngày ấy nằm đối diện chênh chếch với trụ sở ấp, trên hai vạt đồi , ở giữa là con đường làng rải đá mấp mô, nay có tên hẳn hoi, đường Trần Khánh Dư. Cả hai vạt đồi lớn,mà chỉ có hai ngôi nhà. Trụ sở,gọi là thế, nhưng nhìn thoáng thì cũng không lớn hơn ngôi nhà mấy má con chúng tôi được Chú Hoa mai mối cho ở, kiểu nhà mái bằng,mà ngày ấy gọi là “nhà kiểu Mỹ ”, ngôi nhà chỉ bằng một lớp học, hiên chỉ là một ô vuông, xây cao lên ngay cửa lớn,có chống chữ V giữ tấm mái xe nắng, bởi vì người nông dân ngày ấy chê vùng đồi xa nguồn nước, đất khô cằn, không canh tác thứ gì,có những vạt cỏ lớn, đến độ một ông cụ mãi bên ấp kế bên, khu Đa Thiện, cứ hàng ngày xua cả đàn dê hàng trăm con đến chăn dắt, tôi thường ra đây nhặt phân dê về ủ với phân heo nhà mình ,lấy phân trồng rau hoa quanh nhà, và ông cụ đó chết danh với tên “ Ông già Dê”,tức là ông cụ chăn dê,chứ ông đã ngoài sáu mươi, goá vợ, có các con đều ở riêng, và rất hiền lành . Vì nhà gần nơi công quyền,nên khi chính quyền cách mạng về, gọi là Uỷ ban quân quản,thì bỗng có nhiều người tìm đến nhà tôi.Trụ sở ấp chỉ dựng lên để nơi người dân đến nhận tiền vay quĩ Nông Tín,hay tập trung bọn trẻ con đi chích ngừa dịch tả, hay trồng đậu ngừa dịch hạch ( gọi là “ trồng đậu” vì tôi nhớ, cứ vạch tay áo lên, viên y sĩ sẽ cầm một cái ngòi giống y ngòi viết mực,có hình nhòn nhọn như lá tre, gọi là ngòi lá tre, chấm vào một lọ thuốc, rồi vạch lên da sát vai ba vạch. Về nhà thoạt nghe đau,rồi ngứa, khi lớp da bỗng bung mủ,có đứa thì sưng, rồi sau đó để lại một vết sẹo nom chẳng khác gì hạt đậu ngự, nên gọi “ trồng đậu” là thế -tức là vết trồng thành công, đứa bé không bị mắc chứng đậu mùa,có khi mặt đầy rỗ chằng chịt, mà rất nhiều người từng bị ) thế thôi, vì vùng ấp Nghệ Tĩnh nhà tôi sống ngày ấy chỉ có tám chục hộ dân, hồi ấy gọi là “ gia đình “, nếu cứ tính trung bình mỗi hộ bảy nhân khẩu, vì nhà nào cũng đông con,thì cư dân chỉ trên dưới năm trăm, nên các hoạt động khác, như đi bầu cử, hoặc cấp trên gặp dân,thì kéo nhau lên “khu phố’ nay nằm ở Uỷ ban Phường Tám,và chị Bé bảo,bây giờ là Trụ Sở của Mặt trận Phường Lâm Viên, tỉnh Lâm Đồng . Trụ sở là một ngôi nhà dường như trống trơn. Người ta mượn ở nhà tôi chổi,khăn lau cho sạch bụi, rồi cả ly tách ,ấm nước, rồi nhờ hai má và cả tôi đi khiêng bàn ghế từ nơi khác về.. Nhưng gian nhà nhỏ bỗng chật chội khi những món đồ đạc mà cư dân trong ấp “ bốc vác”từ những ngôi nhà trên khu phố giàu đường Phù Đổng Thiên Vương được thu hồi, tập trung về đây, bàn ghế giường tủ, xe đạp, sách báo… có cả mấy chục chú heo con từ trại chăn nuôi của một viên trưởng ty cảnh sát, đối diện ngay với tháp chuông viện Đại học, cách nhau đường Phú Đổng, mà người dân buộc đem trả,cũng gửi vô gian chuồng bé tẹo nhà tôi, vì ở đây có người cho ăn uống hằng ngày ( heo Dalat từ lúc lọt lòng được lau bằng khăn sạch,cho đến khi hoá kiếp thì chả đòi được tắm rửa,vì tắm thì chúng nó.. đổ bịnh ! ). Hai má tôi, so với các cô dì cùng tuổi trong ấp, suýt soát ba mươi ngày ấy, thì biết đọc biết viết,lại rảnh tay rảnh chân việc nhà,bởi chỉ có mỗi tôi là “ con lạch chạch”( cái đứa lẹ tay lẹ chân lẹ mắt,lắm mồm lắm miệng )nên lại được giao cho việc “ ghi sổ sách, coi ngó” các món ấy. Ba má con bỗng thấy mình bận rộn vô cùng .Một niềm vui rộn ràng là đi họp, gặp gỡ nhiều người, gần như từ sáng đến tối. Tôi nhanh chóng có tên trong đội thiếu niên ấp, mà chị Bé làm phụ trách. Hai đứa tôi bíu lấy nhau,nhảy cà tưng, cứ như là đã lâu chưa hề gặp lại,chứ có ai biết tối nào tôi cũng ôm gối xuống nhà ngủ chung với chị ấy, vì bà này đang học lớp Mười Hai,chuẩn bị thi tú tài IBM, tức là thi toàn kiểu ABC khoanh, rồi bỗng dừng,nên dù sao cũng lo lo , cả ngày hội họp tối còn hát xướng,nhưng khuya về lại chong đèn ôn bài,tôi đến ngủ cho ấm ! Những lúc cùng rúc trong chăn, nhưng cả hai vẫn thấp thỏm có người đến gõ cửa, hỏi thăm : hai cái con lạch chạch, giờ này mà đã đi ngủ rồi hả ? Dù trước đó gần hai năm chúng tôi được ông Tiến chủ trại cưa trên vùng Cầu Số Mười,đường lên Lạc Dương,nghẹn ngào bảo : chú ấy.. ở ngoài Côn Đảo.. Chỉ mong mai kia hoà bình ra ..thăm mộ ! Và lần đầu tiên tôi sững sờ vì bắt gặp một người đàn ông da dẻ luôn đỏ ửng như một ông tây, ria mép hài hước, to khoẻ,thế mà hai tay bưng mặt khóc rưng rức: không có chú ấy, thì cả nhà tôi giờ này đều vô Chí Hoà cả…
Chị Bé được cử đi học lớp tập huấn cán bộ phụ trách Đội. Người giới thiệu “ chức vụ “ này cho chú Sằng, gọi là trưởng ban quân quản ấp ngày ấy là ..tôi, thứ đến là Hai má tôi.Vì tôi nghĩ, đi tập trung bọn con nít thì cần biết chiều chuộng tụi nó,rồi biết hát hò, biết thổi còi đánh morse, biết tổ chức các trò chơi lớn …mà chị này từng tham gia phong trào Hướng Đạo, nên hợp lắm. Hồi ấy thanh niên cả ấp cùng tuổi đều có mặt trong đội văn nghệ, rồi họp hội thanh niên,mà bà chị tôi nhút nhát cứ bám lấy tôi, nên nghe chức này thì nhận ngay.Học bên trường Yersin,hồi ấy có tên là Trung tâm giáo dục Hùng Vương, cũng chỉ dành cho diện con ông cháu cha . Chị đón ngày Thống Nhất Đất Nước 30.4 trong trường tập huấn ấy. Buổi về nhà, lời đầu tiên thì thầm chị gặp tôi, khi tôi ôm gối xuống ngủ cùng chị ,là : có chú bộ đội nào tìm ..hai đứa mình không ?
Tôi ngơ ngác lắc đầu,rồi cười toe : Có một chú, mà chú này hỏi thăm chị T. Chú ấy muốn tán chị T. Nhưng chị ấy lại ..hình như có ai rồi í !Chị T là chị gái lớn trong nhà.
Chị Bé ngồi sững người, rồi thất vọng quay đi, sau khi chán chường bảo : Nói chuyện với mày ..thôi tao không nói nữa !
Đến mấy năm sau, khi cùng đi thi đại học ,tôi mới hiểu “ chú bộ đội tìm hai đứa mình “ là ai . Chị tôi luôn nhớ mong, chờ đợi, dù hẳn dáng vẻ của ông Tiến trại cưa hôm nào khiến chị bàng hoàng và thổn thức nhiều đêm. Vâng,chả ai trách chị sao cứ hy vọng. Hồi ấy dù bận ngày bận đêm, chị vẫn dành thời gian dịch cuốn “The Islands of Greek” toàn bằng tiếng Anh,một cuốn tạp văn về nước Hy Lạp.Lý do là ,chị bảo, chú ấy hồi xưa mơ ước được có dịp ghé nơi này, thăm một cái ông nhà tu ở một mình trên hoang đảo, và xứ này có ngàn hòn đảo, với biết bao nhiều truyền thuyết hay lắm. Tôi bảo tôi có công tra từ điển,lục tìm cuốn sách Grammar English của tác giả Trần Văn Điền để cắt nghĩa vì sao tác giả lại dùng kiểu câu này, nó có ý nghĩa gì .. giúp chị dịch cho nhanh, thì cần ghi tên cả tôi nữa,khi làm món quà tặng “ chú bộ đội ấy”. Ngày ấy bọn tôi chẳng hề đi học thêm,môn Tiếng Anh cũng không thể ra tận phố,học ở Hội Việt Mỹ,vì đi đêm bất tiện vô cùng,nên tất cả các môn đều tự học , người thầy là sách, nguồn tri thức vô tận, và một vài người bạn. Chị Bé có chị Vĩnh Tiến, cô cái gái út ông Tiến trại cưa, và hẳn nhiên là tôi !
Tôi vô tư tham gia đội văn nghệ thiếu nhi của ấp. Tôi là đứa trẻ lai, hay nói theo kiểu “ nướng bánh mì “ của chị Giang sau này thì tôi là ổ bánh mì bị nướng dở chừng,chín mà còn trắng từ ngoài vô trong. Hai má nhặt được tôi ở nhà ga Gia - rây, Xuân Lộc, Long Khánh,một buổi đi làm rẫy về. Hai má khen , hồi nhỏ tôi “coi ngộ lắm, cứ như con búp bê vậy”. Rồi tôi theo họ đến một đồn điền cao su, hai má làm công nhân cạo mủ, rảnh thì may vá cho người ta, vì dạo ở trong trại mồ côi, họ được học nghề này ngoài các lớp văn hoá. Và khi tôi bảy tuổi thì dọn lên ấp này. Tuổi đẻ thì tôi cầm tinh con cọp. Ai cũng xót xa vì tôi không có cha, không có mẹ ruột, lại bị liệt một tay do di chứng sốt tê liệt, và lo lắng cho cái số “con cọp” của tôi: cao số,khó lấy chồng, khó làm ăn ! Tôi cứ sống hồn nhiên, vì xung quanh tôi cuộc sống là một thế giới màu hồng dưới con mắt ngây thơ của tôi. Khó lấy chồng ư ? Ồ thì hai má tôi đó, đâu có chồng mà vẫn có tôi, vẫn sống tốt.Khó làm ăn ư? Thì cứ cố gắng như lời “chú bộ đội “ căn dặn: không được làm chuyện phi pháp,phải thật thà siêng năng, và luôn đưa tay giúp đỡ người khổ cực như mình”. Trước ngày hoà bình,tôi được một tổ chức của người Mỹ hỗ trợ tài chính hằng tháng, gọi là Hội Cha mẹ nuôi quốc tế.Vì tôi là nữ nên Hội luôn cử những người thuộc phái nam làm bố,có khi là một thương nhân,một công chức,có cả sinh viên đang đi học. Hằng tháng, tôi được nhận một số tiền,tôi không biết rõ vì hai má đi nhận,nhưng dư dật cho một đứa bé nông thôn ăn học. Những dịp lễ lớn thì có quà, có thêm sách truyện bằng tiếng Anh rất dễ đọc, rồi cả vé xem xi nê ở những rạp lớn trong thành phố. Các “ông bố” người Mỹ gửi thư đều đặn hàng tháng, dù tôi biết họ bận rộn.Thư họ kể,bây giờ có dịp nhớ lại, đều chứa chan tình cảm giữa người với người.Họ tâm sự với tôi kể cả những niềm vui ,nỗi buồn lớn trong gia đình họ,chứ không phải chỉ dừng lại ở những lời thăm hỏi xã giao. Người giới thiệu tôi đến tổ chức này chính là “ chú bộ đội” ngày tôi lên bốn, sau cơn bịnh kinh hoàng,sốt tê liệt. Vậy mà giờ khắc hoà bình, khi mọi người từng giây phút hồi hộp chờ người đến tìm, thì tôi lại vô tâm đến đáng trách.
Sau ngày 30.4,mọi thứ thay đổi, vì trường học mở lại, tôi bỗng có nhiều đứa bạn ,còn bạn cũ thì đi đâu cả. Rồi mới biết, đứa đi học trường khác, vì sau đó hệ trường công lập không còn, ai ở vùng nào về vùng đó, đứa đi vùng kinh tế mới, đứa ra nước ngoài, còn tôi cứ lớn dần. Khi tôi ra trường, làm cô giáo,giai đoạn 1985-87,mới rộ lên hiện tượng “ con lai”chứ suốt hăm mấy năm trôi qua, trong con mắt mọi người,ở Dalat,ở thành phố Hồ Chí Minh, tôi là một công dân Việt Nam.Không phải vì tình trạng thể lý - liệt tay phải - của tôi, hay do tôi có làn da khác mọi ngươi- mà ai ai cũng đối xử thân thiện với tôi. Từ tuổi học mẫu giáo,tôi được các cô giáo khen “con nhỏ tành lanh”tức là láu lỉnh, nhanh nhẹn, chứ tôi không dám nhận mình là đứa thông minh. Từ tuổi bé tí tẹo, tôi đã hiểu : đừng làm khác những gì mà mọi người từng cho là đúng, rồi phải luôn cố gắng, đừng sống che đậy, dối trá, biết nhìn xuống, tức là có tấm lòng nhân ái.Chị Bé từng khen tôi:hồi nhỏ, Hoa Tre đã biết sống tốt ,nên người khác cũng tốt với mình. Coi trên truyền thông, những trang You Tube, đôi khi tôi nghe những lời tâm tình của một vài bạn, vì họ cũng cỡ tuổi tôi, có người nhỏ hơn, thuộc diện con lai, sang Mỹ định cư, họ từng bị cô lập thời còn bé,khi ở quê nhà . Cũng có thể vài cá nhân riêng lẻ, nhưng với tôi,thì việc ấy không hề có . Những ngày gia nhập đội Thiếu niên tiền phong, tôi bất ngờ biết mình … có máu văn nghệ.Múa,hoạt cảnh, hợp ca, đơn ca, thậm chí được cử đi thu âm tận đài phát thanh Tỉnh Lâm Đồng ngày ấy, tôi cũng có tên, có mặt. Tôi nhớ khuôn viên Đài còn nhỏ lắm,nằm trên vùng đồi trông xuống hồ Xuân Hương. Không phải vì tôi “dựa hơi “chị Bé tổng phụ trách, mà việc chọn là do các anh chị trên Tỉnh . Đến bây giờ,trong tim tôi vẫn bồi hồi ngân vang những câu hát “ Bay lên nào, em bay lên nào/Ngày vui toàn thắng tưng bừng pháo hoa/Bay lên nào, em bay lên nào/Vui bạn Nam Bắc về trong một nhà.”. Chị Giang thỉnh thoảng hứng chí cũng hát khi cả ba chúng tôi,Giang, Bé, Tre gặp nhau ở quê các chị hay nơi tôi đang ở, Tre bay lên nào..Tre cùng Giang Bé về trong một chòi . Ngày ấy, tiếng hát non nớt tuổi mười ba của tôi vang lên trong làn sóng phát thanh tỉnh, thế mà có mấy người bạn mãi Hà Nội lắng nghe, rồi gửi thư đến tận nhà tôi,làm quen,có cả nam lẫn nữ. Các bạn ở loanh quanh khu tập thể Nguyễn Công Trứ Hà Nội. Khu tập thể được xây dựng trên nền đất cũ từng là nghĩa địa của người Pháp. Đây từng là biểu tượng cho cuộc sống văn minh thời kỳ bao cấp với các dãy nhà kiên cố và hành lang chạy dọc ở giữa. Các hộ gia đình cán bộ, công nhân viên chức nhà nước, được chia nhà ở đây từ 1960, chị Giang giải thích , còn chỉ dẫn rành mạch, để như tôi có dịp ra thăm vào những năm sau thì dễ tìm ,khi tôi quen biết chị vào dịp tết 1978,chị lên Dalat đón xuân cùng chúng tôi, Nằm tại phường Phố Huế, quận Hai Bà Trưng, khu vực tập trung đông đúc , phố chính của Hà Nội đấy. Tôi cũng mô tả sơ lược về con đường Nguyễn Công Trứ phía sau nhà tôi, trước vườn nhà chị Bé, nơi hai má tôi từng làm công ở đây. Con đường Nguyễn Công Trứ ngày ấy đìu hiu,một bên là đồi, đồn lính đầy kẽm gai , một bên là thung lũng rau. Nhưng các bạn Hà Nội thì nức nở khen Dalat đủ thứ,nào có rất nhiều loài hoa đẹp, phong cảnh thiên nhiên tươi thắm,khí hậu mát mẻ như trời Âu.. Họ có ảnh chụp chung ở sân nhà khu tập thể,chắc hẳn moi từ album gia đình, gửi cho tôi, còn tôi thì chọn một ảnh chụp để dán học bạ,gửi cho họ. Lúc đó tôi đã có ý đồ chuyển giới,nên tóc hớt tém, vẻ mặt nghịch ngợm như con trai, cộng với cái tên La Xá Xị khiến nhiều bạn nam thích thú,nghe hát sao cứ ngỡ là ..con gái !
Hồi đó tôi đang tập toẹ học đệm đàn ghi ta, tôi nhớ khi tôi say sưa với điệp khúc :
Đêm pháo hoa, vang tiếng ca/Hoa lưng trời và hoa trong ánh mắt/Đất nước mình bao nhiêu hoa đẹp
/Bác vun trồng giờ nở hoa dâng Bác.
Chị Bé ngồi bên vỗ tay hát theo,nhưng rồi phút chốc hai chị em mắt nhoà lệ. Chú Chuột Đen,khi tôi biết thì có tên Đa,mãi đến ngày hoà bình ,mới biết tên thật của chú rất không giống con trai chút nào . Tên Hoa.
Sau này ra làm cô giáo,có lần tôi bắt gặp một bài thơ mà câu nào cũng có một chữ Tím : Nàng mặc màu áo tím,chợt tím cả bầu trời. Tôi về yêu sắc tím, và tim tím hồn người .. Tôi lại nhớ về những câu hát ngày 30.4 năm ấy.
Đêm pháo hoa, vang tiếng ca/Hoa lưng trời và hoa trong ánh mắt/Đất nước mình bao nhiêu hoa đẹp
/Bác vun trồng giờ nở hoa dâng Bác.
Những ngày chị Bé đi học rồi đi dạy xa,tôi lên cấp ba, hai má tôi được nhận làm tạp vụ cho mấy cơ quan hành chính trên tỉnh,cũng nhờ có các chú trong uỷ ban quân quản ngày trước cử đi, vì họ thấy các má chân chất, cần cù, lý lịch tốt.Làm việc ở các cơ quan công quyền,nhà lại gần bên trụ sở Uỷ ban ấp,nên rất nhiều chú cán bộ, bộ đội tìm đến,nhờ tìm người quen, nhiều nhất là những người sinh trưởng từ bên kia vĩ tuyến 17, vào vùng Lâm Viên này định cư, từ rất lâu.Họ cũng xem tôi như bao thiếu nữ thuần Việt, có người buột mồm,trời,con gái Dalat,ăn rau ăn quả nhiều nên da dẻ nom tươi tắn quá nhỉ .
Tôi xa thành phố với biết bao kỉ niệm, để đến định cư một nơi cuối trời nam.Má Mười ngó vậy mà lai láng hồn thơ,có lúc ngồi buồn thì nỉ non :Tấm áo nâu, rướn mình đi từ cõi rừng cao / Dắt dìu nhau vào đến Cà Mâu, áo ơi / ( Tình ca- Phạm Duy ). Buổi từ một khu đồn điền cao su vùng Long Khánh miền đông đất đỏ,có “ chú bộ đội” dẫn đường, nay về đây có cô Kê,một cô giáo,chồng cũng là một “ chú bộ đội thầy thuốc” chỉ lối, cho nên dù bao khó khăn, năm con người trong nhà đều vượt qua . Đã có nhiều người đùa : sao hồi có điều kiện đi Mỹ mà sống cho sướng,mày hổng chịu đi ! Tôi cũng đùa :ừ hé,rồi cứ tháng tháng tui gửi về cho bà vài thùng ,bà khỏi phải làm gì hết ,sướng thiệt. Nhưng chị ấy xì ra một hơi dài: ở đâu cũng phải làm cực khổ mới có ăn. Rồi chị thì thào :có người về già cũng muốn về đó.Nói gì thì nói chứ quê cha đất tổ vẫn là nơi người ta tìm đến khi đã thấm bụi trần . Hai má tôi thì giải thích theo kiểu “ đi thì zụt con nó cho ai. Tụi tui chỉ là bà ngoại hờ”.Nhưng tự đáy lòng, đến bây giờ tôi tự thú mà không thẹn với lòng ,rằng tôi muốn ở lại nơi này. Tôi muốn có dịp ghé thăm mộ “ chú bộ đội” một con người xa lạ,mà hai má tôi xem như em út ruột thịt trong nhà,chú ấy cũng coi tôi “ cái con lạch chạch” láu cá, hai má lo cho mày,mai mốt mày có đi lấy chồng,đẻ con,cũng đừng quên ơn hai má mày đó.
Báo hiếu, đó là bổn phận của kẻ làm con, và với ba má con tôi, có lẽ Ông Trời thu xếp,cứ đi đến đâu cũng phải có nhau. Tôi đi học làm cô giáo mà sinh con,phải có hai má giúp đỡ,chìa cả bốn bàn tay chứ không phải “ đưa tay ra”. Rồi nuôi một lúc ba đứa,liệu thân tôi,chỉ một bàn tay duy nhất, có làm được không ? Hồi đó,mà bây giờ cũng vậy,chân tôi rất to, vì cả hai chân nhận lấy công việc của bàn tay phải bị liệt. Mỗi khi đi mua giày dép,bao giờ tôi cũng lượn lờ ở hàng “các ông”, vì mọi số của phe chị em ta tôi chỉ mua cho hai má,cho con gái, bây giờ còn mua cho má con cô Kê nữa,chứ phần tôi thì , tôi tự chọn.Và do vậy mà kiểu nào ai trông thấy cũng nhăn mặt : khiếp,thứ này đàn ông họ đi,chứ đàn bà ai mà xỏ vô, ngó mà … Các con trưởng thành,làm ăn khá giả, nên muốn tặng má đôi giày, đôi dép,thì cù rủ má đi ra hàng đóng kiểu, để cho bác thợ đo. Bọn nó đôi bận ra nước ngoài , việc mua sắm đầu tiên là “ ra phố giày dép” Trước đó đi qua gặp mấy bà đầm là dòm dòm thử kiểu các bà mang là kiểu gì, có khi tọc mạch còn hỏi : thứ này bán ở đâu ? Bây giờ, tuổi già bóng xế,có thể sống ở miền quê,mà bởi tôi muốn tri ân má con Cô Kê,những người luôn coi tôi là “ người nhà “, tôi cũng cần có hai má bên cạnh.
Nhưng người luôn cho tôi một hướng đi,phù hợp với cảnh ngộ của mình,cho tôi niềm lạc quan trước gian khó,cho tôi ý chí để chiến thắng bản thân và nghịch cảnh,cho tôi tri thức để tôi biết nhận định đúng sai,phải trái giữa một xã hội ngày ngày biến đổi không ngừng, cho tôi một niềm tin,để tôi luôn hy vọng,thì hình bóng “chú bộ đội” năm xưa lại hiện về.
Chúng tôi đã có dịp đi viếng mộ chú ấy ngoài Côn Đảo. Ở đây, có khắc một bài thơ của cụ Cụ Phan Chu Trinh viết trong những năm tháng bị giam cầm ở đây. Với cụ, sống những ngày ở Côn Đảo là một hệ quả tất yếu của mọi kẻ mang hai chữ “ làm trai” trên con đường cứu nước,bởi đó là tư thế “ đứng giữa đất Côn Lôn”. Cả bài thơ dồn vào cặp tính từ láy “ lừng lẫy”, mô tả phẩm chất của một con người với danh tiếng vang dội, được biết đến rộng rãi với sự ngưỡng mộ. Trong suốt hơn nửa đời người, tôi đã tiễn đưa bao người thân, bạn bè đến nơi an nghỉ cuối cùng,nghĩa trang nào cũng bề thế, san sát những vòm mộ bia được tạc đá,khắc chữ nghiêm cẩn,có nơi đồ sộ như một ngôi nhà của người đi xa .Còn nơi chúng tôi tìm đến.. Có một thông số nhiều người trong chúng tôi biết khi đến.Trong số hơn 1.900 phần mộ tại nghĩa trang Hàng Dương Côn Đảo, chỉ 713 ngôi mộ có thể xác định danh tính. Mộ “chú bộ đội thân yêu “của chúng tôi ở đâu? Có trong 713 ngôi mộ có tên,nay là số của hơn tám trăm ngôi mộ còn lại. ? Chúng tôi đến vào giữa trưa,miền biển nhiệt đới phương Nam lồng lộng gió, đi ngoài đường nắng đổ lửa trên đầu,nhưng nơi đây thật mát,bởi có vô số bóng cây xanh toả bốn bề, những hàng bia hiện ra trước mắt chúng tôi là những chiếc trụ cột đơn giản,bên trên có gắn những khối hộp có khắc một ngôi sao đỏ chói,tượng trưng ánh sáng của Đảng. Mỗi khuôn mộ là một khối đá đen chữ nhật, cũng nhỏ nhắn như phù hợp cột bia, nằm rải rác, đều đặn khắp một vùng cỏ xanh rộng hút tầm mắt . Chúng tôi đứng thẩn thờ,nhoà lệ. Người thân yêu năm xưa của chúng tôi đang ở đây,nhưng ở đâu? Không, anh ấy đang ở đây, rất gần với chúng tôi. Tôi chợt nhớ những năm tháng tôi còn bé,anh lúc ấy là một thanh niên đôi mươi, trai tráng,khoẻ mạnh, tươi tắn, một tối xuất hiện ở nhà tôi, áo quần nhuốm đầy đất đỏ. Má Mười tôi la lên:
- Mày ở đâu ra, đất vườn giờ này đầy sình mà ?
- Ối, đất này quí lắm, tận…
Anh ngắc ngứ, đưa tay chỉ . Khi cả bọn gồm hai bà chị Vĩnh và Bé vặn tra, anh bảo:
-Tao xuống hầm sâu,cho biết.
Ừ thì vùng quê tôi nhiều nơi người ta cũng đào hầm, bởi chiến tranh thì sống ở hầm tránh bom đạn là lẽ đương nhiên. Bỗng chú bộ đội ấy thì thầm :
- Ai rồi cũng một lần xuống !
Và như sợ chúng tôi có cái bản chất “lạch chạch “ vặn vẹo ,anh thêm như để kết thúc câu chuyện về “ bộ quần áo nhuốm đầy đất đỏ “:
- Mai mốt tụi bay lớn lên, khi đó biết đâu thanh bình rồi, đi học người ta cho đến .. chỗ có hầm, hầm có súng ống đủ thứ, thì cố gắng xuống coi cho biết.
Rồi anh quay ngoắt đi,bao giờ cũng vậy, vì anh này rất bận rộn :
- Thôi, tao nói vậy thôi, đừng thắc mắc làm chi cho mệt. Tao có nhiều thứ phải lo, tụi bay cũng vậy, mà ai cũng vậy hết !
Những năm học đại học,nhà trường đã tổ chức cho chúng tôi đến viếng địa đạo Củ Chi một lần . Tôi chợt như thấy anh đứng đó,ôm bộ đồ bám đầy đất, miệng thì thầm:Ai rồi cũng một lần xuống. Bất giác tôi đưa mắt nhìn quanh.Hồi ấy tôi vừa đi kiến tập sư phạm ở năm học thứ ba, bi quan lắm, vì ở trường phổ thông, chỉ có vài lời về cánh tay tôi, khiến tôi đau đớn ,trong khi ba đứa bé và hai má lại đổ bịnh cùng một lúc… Tôi hiểu, trước khi nằm xuống thì hãy đứng thẳng, và nhớ “gian nan chỉ là chuyện con con”. Tôi nhớ đến một cây tiếng Anh dán ở đầu bàn học của anh bên nhà ông Cửu Điền ở đường Nguyễn Công Trứ người chú họ đã dẫn anh ngoài quê vào đây : To be a man,one must suffer the blows of misfortunes. Khi học đến tập thơ Nhật ký trong tù của Bác Hồ,chúng tôi hiểu, à đây là lời Bác tự động viên mình giữa chốn lao tù xứ người : Sống ở trên đời, người cũng vậy/ gian nan rèn luyện mới thành công.
Bây giờ thì anh ở trong lòng đất nơi này,đất Côn Đảo có màu nâu trầm, nâu đỏ ,nhiều đá,thứ đất đồi núi và các phiến cổ thạch lâu năm. không phù hợp cho các loại cây rau mềm mại miền ôn đới cao nguyên nơi anh trưởng thành, gắn bó, cũng không phải là vùng nhiều phù sa cho lúa tốt tươi ở miền tây sông nước tôi về, mà Anh tự nguyện đến nơi này, vì anh đã có những tháng ngày “mưa nắng chi sờn dạ sắt son”. Anh chết tốt vì anh đã từng sống tốt. Dẫu còn lại ở Anh là tấm bia cột đá,khuôn mộ cũng là khối đá vuông vuông,nhưng tất cả sẽ trường tồn với thời gian. Bởi nối tiếp bước chân anh cho lớp lớp thế hệ đàn em năm mươi năm qua không dừng lại.
Từ ngày mà đêm đêm co ro trong chăn,chúng tôi phập phồng chờ có chú bộ đội đến gõ cửa,hỏi han,mắng mỏ mà vui mừng,bây giờ đã qua năm mươi năm lẻ. Người thiếu nữ thổn thức hằng đêm nay lại trở về ngôi nhà xưa,sống ẩn dật nhưng không cô độc. Cuộc sống ngày nay khiến không một ai thấy cô đơn lẻ bóng.Bước ra đường là phố xá ngựa xe xuôi ngược, về nhà nào là ti vi, lap top,điện thoại, rồi bao con người,chỉ alo, hay email. Đi khám bịnh, chợ búa,thăm viếng cũng trở nên đơn giản. Người anh ,chú bộ đội đi xa, nhưng anh vẫn rất gần,vì anh đã giao nhiệm vụ ấy cho một người khác . Anh ấy là Chuột Đen,còn người kia là Mèo Mun, cùng từng lo lắng, cũng mắng mỏ, và yêu cầu cao đối với bà giáo này. Những năm tháng đã qua, từng thấm thía “ dẫu mưa nắng,trái đất tròn vẫn đẹp” nên luôn ý thức “đời yêu ta, ta phải thắng cho đời”.Họ đang sống như Ngưu Lang- Chức Nữ, nhưng hề gì,ngày xưa mỗi tháng bảy phải cầu cứu các chú quạ bắc cầu Ô Thước, nay thì nhiều phương tiện hiện hữu hơn. Thôi cứ như thế cũng được,dù chị Bé bị di chứng chất da cam nên ngày đêm khốn khổ với bao căn bịnh tuổi tác, nhưng vẫn lạc quan.Có chút lương hưu, cả tiền thừa kế,rồi có niềm vui, và sức khoẻ không chỉ là mặt thể lý,mà con tinh thần,nên cứ sống tốt, thì mai kia sẽ một lần xuống đất thôi.
Hoa Tre .

