Saturday, October 10, 2026

NHỮNG NGƯỜI CON HÀ NỘI

 


     ( Nhớ  về Thủ Đô,  quê hương nơi xa, ngày  10.10 )

Vân Thanh  bảo lần đầu  gặp tôi ở sân  đan viện Châu Sơn  ( Đơn Dương- Lâm Đồng) để cùng dự một đợt tĩnh tâm kéo dài suốt  tuần  hè  năm  ấy,bà chị này ,khi đó   tuổi mới   đủ ba chục   dịp  thổi  nến  bánh  ga- tô, bảo chả hề có chút thiện cảm,vì   mọi người đều nói giọng    Dalat, tức là  giọng miền Nam pha chút miền Trung, hoặc là  Trung, còn tôi thì  Bắc trọ trẹ, nghe rất ..          Bà  già này hồi ấy  lòng dạ  rối bời,bởi   đã  bần thần suốt  mấy tháng  trời,  nên sang Úc với bố mẹ và các em,hay ở lại. Ở lại sống bơ vơ,sang bên kia lại xa lạ.    Còn tôi thì  cân nhắc mãi  là nên  cố nán lại  ngành giáo dục hay  chuyển qua đơn vị khác .Một tuần vật vã, ngày chia tay cũng đến. Bỗng cái con  người chả hề    cảm thấy lọt tai bởi âm thanh -( tôi vốn  có  giọng ngang bè bè của   người  không  quen  dùng năm thanh sắc vốn từng được thi  nhạc  Việt ngợi ca ) nay  cố học cho ra giọng   kẻ từng sinh ra và lớn lên ở đất kinh  đô ngàn năm văn hiến, có  người còn khen “ giọng nói sang trọng “ nữa kìa- lại  bất  ngờ leo lên chiếc xe đò  hướng về  Dalat,thay vì ra ngã ba Phi Nôm đón xe từ Dalat xuống để trở lại Thành phố Hồ Chí Minh.Lý do:  tớ  lên đó đổi gió ít hôm. Và tôi giật mình khi nàng ta phán,  cứ như là đã .. đặt phòng : tớ  ghé nhà bồ nhé,vì  mãi đến  sáng nay tớ mới biết  bồ có  nhà,ở một mình .  Bốn chục năm trôi qua,  tôi  có lúc tự hỏi người ta đặt ra tĩnh tâm đâu chỉ dành riêng cho các tu sĩ , mà cho  những con người  lúc “tâm hồn đầy xao  xuyến “ như ông Thánh Âu Tinh (Augustino )bảo,nhưng từ  buổi đầu chỉ giới thiệu tên,  nơi đến,sau đó là cứ lầm lì   lướt qua nhau,dù ở chung một phòng: sáng  tự lo mà thức, rồi tự  đi đến nhà ăn,rồi tự   vào nhà  nguyện,  tự  đi tìm chỗ cầu nguyện, tự nghiền ngẫm, tự vui, tự buồn,tự mình sống với mình và một đấng gọi là Thượng Đế, rồi lắng nghe tiếng nói tự cõi lòng, mặt mũi ai nấy  cứ dửng dưng,cứ thản nhiên, lướt qua nhau,mà   khối óc và con tim đang đấu tranh dữ dội. Không biết khi  đó  Vân Thanh nghĩ gì,mà  cuối cùng chọn tôi để gửi hết nỗi niềm ,khi ở lại nhà tôi  cả mười hôm,  lang thang khắp các con đường  yên tĩnh, vắng lặng đến  nỗi tôi là đứa   rất thích sống một mình vẫn ngại đi qua. Buổi sáng chia tay, tôi đưa cô nàng ra bến,  đứng canh đồ  rồi cùng chen lấn  để   có được chiếc vé  xe. Bất chợt Thanh ôm chầm lấy tôi,  nói  rất  khẽ vào tai tôi : Tớ sang bên ấy,   sẽ  cố về dù một lần,để  cùng bồ ra Hà Nội. Tớ  là  người  Hà Nội  đấy. Thanh giải thích khi cùng tôi mở một cửa hàng tiện lợi tại   vùng cao nguyên  êm đềm này :  Ông bà tớ,   mẹ tớ vào Nam sau năm tư .Bố đẻ tớ, cũng là một nhà văn  gốc Hà Nội. Tớ  biết và hiểu ông khi lớn lên,  bởi nhà văn thì hào hoa, mà mẹ tớ hồi ấy lại chưa biết  thế nào là yêu người đã có gia đình ,và yêu khi còn rất  trẻ con .

 Sau hơn  hai mươi năm  bôn ba  phương trời, Thanh lại quay về, tìm tôi. Trong  rủi có may. Đợt tĩnh tâm năm ấy  đã định lại  hướng đi cho nhiều người   tuổi ba mươi dở dở ương ương về tương lai,có  Vân Thanh, tôi và Bà Bé. Bà này hồi đó vừa   rời bệnh viện sau cả năm  điều trị ,bác sĩ bảo là “ suy nhược thần kinh “ nên trường cũ thì chê,trường mới cũng cảnh báo,  có nguy cơ ..đứng hát bên ngoài cổng trường .Ba bà cùng liều,mỗi  người một kiểu .  Bà   cô giáo  viết to  mấy chữ “ can đảm,kiên trì ,vững vàng “  dán cao trên kệ sách trong buồng riêng,  hẳn dán luôn lên trán,  đi nghênh ngang, chứng tỏ: ta  đã đi là phải đến  . Khiếp !  Còn Vân Thanh thì sao ? Cũng lại thêm một  triết gia : phàm mưu sinh ở đất khách có gì là  nhàn hạ. Còn tôi :  ngày mai phải hơn hôm nay .  Thế thôi. Tôi  muốn tự  mình làm nên cuộc đời mình .

 Tôi nhớ ra rằng khi tôi qua bên Vườn hoa thành phố  công tác , có  nhiều chị  trong tổ thỉnh thoảng  xin phép  nghỉ ba ngày  liên  tiếp để  về  tận  phố lớn  nhận hàng nước ngoài ,hàng từ Mỹ,  đặc biệt từ Úc, gửi  về . Món hàng  “ như trong mơ”  là  vải  quần áo, chủ yếu vải đen cho nam (    vải dày ) và cho nữ ( vải mỏng ), rồi thuốc cảm sốt .  Người ta  thì thầm bảo  người Việt sau bảy lăm mà sang được Úc thì   dễ   thở hơn, bởi bên đó dân số ít.. Vân Thanh  chỉ bảo : Tớ  qua thì  mọi  người đã có  nếp  sống  ổn định rồi,  vì bố mẹ tớ có một  cửa hàng tạp hóa nhỏ, các em  đều làm ở mấy lò mì, rồi  đi học để có  trình độ cao hơn.  Cũng  như tôi, Thanh ít được sống với  mẹ, bố dượng và các em, nên  tính tự lập rất cao. Thanh bảo : tớ mê Dalat,bởi   từ bé tớ đã sống , học hành  tại đây, nhiều kỷ niệm lắm . Và  lý do thứ hai để quay về tìm tôi: chúng ta cùng là  người Hà Nội.

 Là người Hà Nội, đấy là điều chúng tôi tự hào .

 Một thời tôi cứ phải thanh minh, tôi là  người Hà Nội chính hiệu con nai vàng. Bởi nhiều giai thoại về gốc tích của  Giang  đu đủ này .   Đây là “  biệt danh “ bọn trường sư  phạm  ưu tiên cho tôi khi tôi học cùng chúng  nó vỏn vẹn một năm  trời . Chả ai  nghĩ tôi   chào đời ở một  xứ sở   một thời mà nhiều người đi xa khắc khoải khôn nguôi bởi chỉ nơi này mới có  “   ánh đèn giăng mắc muôn nơi, áo màu tung gió lên khơi”và “ phố phường  dãi ánh trăng mơ, liễu mềm nhủ gió  gây thơ” như cõi  bồng  lai tiên cảnh . Tôi  nhớ thím Toàn, môt cư dân đô thành Saigon hoa lệ,  ngơ ngác khi nghe tôi cất tiếng chào,  tất cả có một thanh ngang, mãi sau thím ngập ngừng vì   thấy bố tôi giải thích, cháu từng sống với bà  ngoại trong quê : bà  thuộc người vùng.. thượng du Bắc Việt ( ?! ) hả chú ? Cụm từ này bây giờ  gọi là Vùng  Tây Bắc  nước ta . Ở đây có nhiều sắc dân, thím kể học địa lý chỉ biết là có  người Thổ, Nùng,Mán,Mường..   Những ngày đi học và  dạy bổ túc văn hóa   buổi tối, một chị ở khu Cầu Bông lại  nghĩ tôi là  người Hời (  gốc Chiêm Thành ) bởi giọng   lờ lợ  của tôi, cả làn da  rám nắng gió cát biển !  Tôi về vùng    huyện  ở Đồng Nai  công tác,  học sinh nói rặc giọng Nam Bộ, tôi hòa nhập rất nhanh. Khi ấy, bố tôi sắm cho tôi chiếc Zamaha dame hai màu trắng và xanh lá cây,  rất mới, hình như người chủ chỉ dùng đôi ba lần,  rồi tôi lại được thừa hưởng số áo dài   đủ màu, đủ kiểu ( ở cổ ) của thím Toàn, cổ thuyền, cổ thấp,cổ viền,cổ đứng,  các kiểu giày cao  gót,chỉ diện khi  về   phố thôi,  nhưng tôi nhớ lúc  ra Hà Nội ,tôi phóng xe như bay trên các con phố, đến trường, có  người ngỡ ngàng, ủa sao có một chị  Bắc  năm tư  đến công tác ở trường mình .! Tôi vào Dalat, sau hai năm ra Bắc, thì  người ta vui vẻ : hồi  trước giải phóng bồ học trường nữ phải không,khóa có cô  Lệ Minh dạy Hóa,làm Hiệu trưởng .. Ôi, người ta    nhận tôi là  bạn, bởi tôi chào đời,học hành ở xứ này,như cái bà Bé bạn tôi vậy . Tôi cứ ừ ào,bởi có nói tôi là  người Hà Nội,họ lại  nghi ngờ !

  Phần Thanh,cô nàng cũng bảo,  người ta cho rằng tớ sinh ra ở một vùng sông nước phương Nam nào đó,  người ta quen gọi là Lục Tỉnh . Bởi giọng  ngọt   ngào không pha trộn, lại còn biết ngâm nga  sáu câu vọng cổ nữa chứ,  đâu thua gì Hoa Tre ! Đồng  đội ở đơn vị Thanh niên xung phong  cứ kháo nhau, bà Thanh ở đây bả ca vọng cổ, về nhà bả,có ông bà ngoại, bà hát quan họ hết ý. Thanh bảo, tớ nói giọng Bắc cũng được,  cũng   dịu dàng như ai ấy chứ !  Thanh chính là cô giáo Bắc năm tư . Học trò thì bất  ngờ vô cùng, khi  kéo nhau đến nhà thăm ông bà ngoại của tớ . Bây giờ thì người ta gọi Thanh:Việt kiều . Nhưng mãi mãi  bạn tôi là  người Hà Nội.

 Khi   cùng Thanh ăn  mấy món quen người gốc Hà Nội  ưa dùng,  phở, bánh cuốn , bún đậu mắm tôm,  cốm xanh .. của chủ là  người  quê Hà Nội ,  tôi  bồi hồi  nhớ một câu viết của nhà văn  xưa  ,” Tôi ao ước một ngày đất nước thanh bình và thống nhất; toàn dân sát cánh với nhau ăn mừng Đại Nhật bằng một bữa tiệc vĩ đại có đủ những miếng ngon Hà Nội" .( Vũ Bằng )

 Bây giờ,  đất  nước  đã hoàn bình, Bắc Nam một nhà,  những  người con Hà Nội   đến muôn phương lập nghiệp,   dù giọng nói, sinh hoạt, phong tục có phần thay đổi để thích nghi với miền quê mới, nhưng tự đáy lòng,  ai lại chẳng có chút tự hào : chúng tôi là  người Hà Nội.

                        Thanh  Giang.  


No comments:

Post a Comment