( Nhớ về Thủ Đô, quê hương nơi xa, ngày 10.10 )
Vân Thanh bảo lần đầu gặp tôi ở sân đan viện Châu Sơn ( Đơn Dương- Lâm Đồng) để cùng dự một đợt tĩnh tâm kéo dài suốt tuần hè năm ấy,bà chị này ,khi đó tuổi mới đủ ba chục dịp thổi nến bánh ga- tô, bảo chả hề có chút thiện cảm,vì mọi người đều nói giọng Dalat, tức là giọng miền Nam pha chút miền Trung, hoặc là Trung, còn tôi thì Bắc trọ trẹ, nghe rất .. Bà già này hồi ấy lòng dạ rối bời,bởi đã bần thần suốt mấy tháng trời, nên sang Úc với bố mẹ và các em,hay ở lại. Ở lại sống bơ vơ,sang bên kia lại xa lạ. Còn tôi thì cân nhắc mãi là nên cố nán lại ngành giáo dục hay chuyển qua đơn vị khác .Một tuần vật vã, ngày chia tay cũng đến. Bỗng cái con người chả hề cảm thấy lọt tai bởi âm thanh -( tôi vốn có giọng ngang bè bè của người không quen dùng năm thanh sắc vốn từng được thi nhạc Việt ngợi ca ) nay cố học cho ra giọng kẻ từng sinh ra và lớn lên ở đất kinh đô ngàn năm văn hiến, có người còn khen “ giọng nói sang trọng “ nữa kìa- lại bất ngờ leo lên chiếc xe đò hướng về Dalat,thay vì ra ngã ba Phi Nôm đón xe từ Dalat xuống để trở lại Thành phố Hồ Chí Minh.Lý do: tớ lên đó đổi gió ít hôm. Và tôi giật mình khi nàng ta phán, cứ như là đã .. đặt phòng : tớ ghé nhà bồ nhé,vì mãi đến sáng nay tớ mới biết bồ có nhà,ở một mình . Bốn chục năm trôi qua, tôi có lúc tự hỏi người ta đặt ra tĩnh tâm đâu chỉ dành riêng cho các tu sĩ , mà cho những con người lúc “tâm hồn đầy xao xuyến “ như ông Thánh Âu Tinh (Augustino )bảo,nhưng từ buổi đầu chỉ giới thiệu tên, nơi đến,sau đó là cứ lầm lì lướt qua nhau,dù ở chung một phòng: sáng tự lo mà thức, rồi tự đi đến nhà ăn,rồi tự vào nhà nguyện, tự đi tìm chỗ cầu nguyện, tự nghiền ngẫm, tự vui, tự buồn,tự mình sống với mình và một đấng gọi là Thượng Đế, rồi lắng nghe tiếng nói tự cõi lòng, mặt mũi ai nấy cứ dửng dưng,cứ thản nhiên, lướt qua nhau,mà khối óc và con tim đang đấu tranh dữ dội. Không biết khi đó Vân Thanh nghĩ gì,mà cuối cùng chọn tôi để gửi hết nỗi niềm ,khi ở lại nhà tôi cả mười hôm, lang thang khắp các con đường yên tĩnh, vắng lặng đến nỗi tôi là đứa rất thích sống một mình vẫn ngại đi qua. Buổi sáng chia tay, tôi đưa cô nàng ra bến, đứng canh đồ rồi cùng chen lấn để có được chiếc vé xe. Bất chợt Thanh ôm chầm lấy tôi, nói rất khẽ vào tai tôi : Tớ sang bên ấy, sẽ cố về dù một lần,để cùng bồ ra Hà Nội. Tớ là người Hà Nội đấy. Thanh giải thích khi cùng tôi mở một cửa hàng tiện lợi tại vùng cao nguyên êm đềm này : Ông bà tớ, mẹ tớ vào Nam sau năm tư .Bố đẻ tớ, cũng là một nhà văn gốc Hà Nội. Tớ biết và hiểu ông khi lớn lên, bởi nhà văn thì hào hoa, mà mẹ tớ hồi ấy lại chưa biết thế nào là yêu người đã có gia đình ,và yêu khi còn rất trẻ con .
Sau hơn hai mươi năm bôn ba phương trời, Thanh lại quay về, tìm tôi. Trong rủi có may. Đợt tĩnh tâm năm ấy đã định lại hướng đi cho nhiều người tuổi ba mươi dở dở ương ương về tương lai,có Vân Thanh, tôi và Bà Bé. Bà này hồi đó vừa rời bệnh viện sau cả năm điều trị ,bác sĩ bảo là “ suy nhược thần kinh “ nên trường cũ thì chê,trường mới cũng cảnh báo, có nguy cơ ..đứng hát bên ngoài cổng trường .Ba bà cùng liều,mỗi người một kiểu . Bà cô giáo viết to mấy chữ “ can đảm,kiên trì ,vững vàng “ dán cao trên kệ sách trong buồng riêng, hẳn dán luôn lên trán, đi nghênh ngang, chứng tỏ: ta đã đi là phải đến . Khiếp ! Còn Vân Thanh thì sao ? Cũng lại thêm một triết gia : phàm mưu sinh ở đất khách có gì là nhàn hạ. Còn tôi : ngày mai phải hơn hôm nay . Thế thôi. Tôi muốn tự mình làm nên cuộc đời mình .
Tôi nhớ ra rằng khi tôi qua bên Vườn hoa thành phố công tác , có nhiều chị trong tổ thỉnh thoảng xin phép nghỉ ba ngày liên tiếp để về tận phố lớn nhận hàng nước ngoài ,hàng từ Mỹ, đặc biệt từ Úc, gửi về . Món hàng “ như trong mơ” là vải quần áo, chủ yếu vải đen cho nam ( vải dày ) và cho nữ ( vải mỏng ), rồi thuốc cảm sốt . Người ta thì thầm bảo người Việt sau bảy lăm mà sang được Úc thì dễ thở hơn, bởi bên đó dân số ít.. Vân Thanh chỉ bảo : Tớ qua thì mọi người đã có nếp sống ổn định rồi, vì bố mẹ tớ có một cửa hàng tạp hóa nhỏ, các em đều làm ở mấy lò mì, rồi đi học để có trình độ cao hơn. Cũng như tôi, Thanh ít được sống với mẹ, bố dượng và các em, nên tính tự lập rất cao. Thanh bảo : tớ mê Dalat,bởi từ bé tớ đã sống , học hành tại đây, nhiều kỷ niệm lắm . Và lý do thứ hai để quay về tìm tôi: chúng ta cùng là người Hà Nội.
Là người Hà Nội, đấy là điều chúng tôi tự hào .
Một thời tôi cứ phải thanh minh, tôi là người Hà Nội chính hiệu con nai vàng. Bởi nhiều giai thoại về gốc tích của Giang đu đủ này . Đây là “ biệt danh “ bọn trường sư phạm ưu tiên cho tôi khi tôi học cùng chúng nó vỏn vẹn một năm trời . Chả ai nghĩ tôi chào đời ở một xứ sở một thời mà nhiều người đi xa khắc khoải khôn nguôi bởi chỉ nơi này mới có “ ánh đèn giăng mắc muôn nơi, áo màu tung gió lên khơi”và “ phố phường dãi ánh trăng mơ, liễu mềm nhủ gió gây thơ” như cõi bồng lai tiên cảnh . Tôi nhớ thím Toàn, môt cư dân đô thành Saigon hoa lệ, ngơ ngác khi nghe tôi cất tiếng chào, tất cả có một thanh ngang, mãi sau thím ngập ngừng vì thấy bố tôi giải thích, cháu từng sống với bà ngoại trong quê : bà thuộc người vùng.. thượng du Bắc Việt ( ?! ) hả chú ? Cụm từ này bây giờ gọi là Vùng Tây Bắc nước ta . Ở đây có nhiều sắc dân, thím kể học địa lý chỉ biết là có người Thổ, Nùng,Mán,Mường.. Những ngày đi học và dạy bổ túc văn hóa buổi tối, một chị ở khu Cầu Bông lại nghĩ tôi là người Hời ( gốc Chiêm Thành ) bởi giọng lờ lợ của tôi, cả làn da rám nắng gió cát biển ! Tôi về vùng huyện ở Đồng Nai công tác, học sinh nói rặc giọng Nam Bộ, tôi hòa nhập rất nhanh. Khi ấy, bố tôi sắm cho tôi chiếc Zamaha dame hai màu trắng và xanh lá cây, rất mới, hình như người chủ chỉ dùng đôi ba lần, rồi tôi lại được thừa hưởng số áo dài đủ màu, đủ kiểu ( ở cổ ) của thím Toàn, cổ thuyền, cổ thấp,cổ viền,cổ đứng, các kiểu giày cao gót,chỉ diện khi về phố thôi, nhưng tôi nhớ lúc ra Hà Nội ,tôi phóng xe như bay trên các con phố, đến trường, có người ngỡ ngàng, ủa sao có một chị Bắc năm tư đến công tác ở trường mình .! Tôi vào Dalat, sau hai năm ra Bắc, thì người ta vui vẻ : hồi trước giải phóng bồ học trường nữ phải không,khóa có cô Lệ Minh dạy Hóa,làm Hiệu trưởng .. Ôi, người ta nhận tôi là bạn, bởi tôi chào đời,học hành ở xứ này,như cái bà Bé bạn tôi vậy . Tôi cứ ừ ào,bởi có nói tôi là người Hà Nội,họ lại nghi ngờ !
Phần Thanh,cô nàng cũng bảo, người ta cho rằng tớ sinh ra ở một vùng sông nước phương Nam nào đó, người ta quen gọi là Lục Tỉnh . Bởi giọng ngọt ngào không pha trộn, lại còn biết ngâm nga sáu câu vọng cổ nữa chứ, đâu thua gì Hoa Tre ! Đồng đội ở đơn vị Thanh niên xung phong cứ kháo nhau, bà Thanh ở đây bả ca vọng cổ, về nhà bả,có ông bà ngoại, bà hát quan họ hết ý. Thanh bảo, tớ nói giọng Bắc cũng được, cũng dịu dàng như ai ấy chứ ! Thanh chính là cô giáo Bắc năm tư . Học trò thì bất ngờ vô cùng, khi kéo nhau đến nhà thăm ông bà ngoại của tớ . Bây giờ thì người ta gọi Thanh:Việt kiều . Nhưng mãi mãi bạn tôi là người Hà Nội.
Khi cùng Thanh ăn mấy món quen người gốc Hà Nội ưa dùng, phở, bánh cuốn , bún đậu mắm tôm, cốm xanh .. của chủ là người quê Hà Nội , tôi bồi hồi nhớ một câu viết của nhà văn xưa ,” Tôi ao ước một ngày đất nước thanh bình và thống nhất; toàn dân sát cánh với nhau ăn mừng Đại Nhật bằng một bữa tiệc vĩ đại có đủ những miếng ngon Hà Nội" .( Vũ Bằng )
Bây giờ, đất nước đã hoàn bình, Bắc Nam một nhà, những người con Hà Nội đến muôn phương lập nghiệp, dù giọng nói, sinh hoạt, phong tục có phần thay đổi để thích nghi với miền quê mới, nhưng tự đáy lòng, ai lại chẳng có chút tự hào : chúng tôi là người Hà Nội.

No comments:
Post a Comment