Tuesday, September 2, 2025

ĐỨA NÀO MÀ ... (tiếp theo )

 





Chờ cho  tấm bảng   thông báo trở  về với  bối cảnh ban đầu,  bốn bà cô kéo nhau  rời sân.  Ai cũng nhủ lòng,thôi quên biến cố vừa  xảy  ra đi,  bởi dù  sao các cô giáo cũng  biết khó mà tìm ra thủ phạm.  Nếu   xếp vào bảng thi đua của cờ đỏ thì   khuyết điểm này thuộc diện “phát  biểu linh tinh” ,còn nặng hơn thì…  rõ  ràng là  …nghịch với lửa. Tấm bảng ấy  nằm trong văn phòng Ban giám hiệu. Người  ra  thông báo là một thành viên của  Ban này luôn,hẳn nhiên là Hiệu trưởng .Mà  cái lỗi   đụng đến thầy Hiệu trưởng thì… Họ tạt vào khu chợ nhỏ gần trường để mua chút thức ăn cho bữa trưa, có thể vài hôm nữa vì biết đâu ông trời buồn tình sẽ nổi dông  bão tiếp. Mùa mưa nên chợ vùng cao nguyên này tràn ngập  sắc  vàng  mơ  trong các thúng mủng, món măng luộc,tức là măng tươi được lấy trong rừng tre vùng Đạ Houi, Đạ Tẻ,nơi còn nhiều khu rừng nguyên sinh giáp Đồng Nai,  rồi luộc chín và  tước nhỏ,  người mua chỉ việc mang về ,chần lại nước nóng,là có ngay vài món ngon. Tươm thì  xào thịt ba chỉ,còn ở nhà cô bạn,tôi thấy  chủ nhà thường  mua cả ký măng, sẵn chợ luôn có   cá nục  hấp từ biển Phan Rang,Phan Thiết mang lên,  rất tươi và  rẻ,đem kho chung hai món lại,ăn rả rích với cơm nóng ngày mưa,ôi thôi không còn gì bằng !  Nhưng chị phu nhân thì rảo quanh khu chợ nhỏ tìm mua bằng được  cây rau bố xôi,  sách vở gọi là rau chân vịt.Chúng tôi, chị thanh tra  vốn là cô giáo Sinh vật,bảo ngay : Tiết mưa này hiếm lắm.Vì chưa kịp ra lá là mưa đánh dập cho te tua  rồi . Ngày ấy chưa có ai chế  ra thứ nhà lồng như bây giờ !  Nhưng chị này cương quyết và thiết tha,là bởi có một vị khách phương xa  sẽ ghé nhà  dùng bữa trưa nay,mà hễ khách đến thường khát khao một món ăn thật đơn giản,canh rau bố xôi nấu thịt bò ! Tôi chợt nhớ có hôm tôi gặp chị  này phóng xe qua  tận vùng Thái Phiên,tìm mua cây con  Ăc- ti -sô,tức là    cây mẹ vừa trồng,  khi   chuẩn bị đâm bông thì có vô số cây non  mọc theo, thân hồng hào,mơn mởn.Những  đám cây này  nếu để già  sẽ tách  ra làm giống,nhưng người ta chỉ giữ lại mỗi gốc chính vài cây,còn lại thì họ  tỉa ra khi cây cao độ vài  gang,gọi là”cây non” rồi bó lại từng bó độ chục  cây,bán làm  rau,giá khá cao,chỉ  những  bà đầu bếp bấm bụng mới  dám mua về,nấu canh hoặc trộn  gỏi.  Loại cây này chỉ  rất sẵn những ngày mưa gió như  hôm  nay  .Vậy mà chị ấy lại  bươn bả tìm mua vào tiết trời nóng nực ,hanh khô.Vì chả là có khách đến,lại thổ lộ muốn được thưởng thức món ấy. Phu quân của  chị   từng  đi nhiều nước, hẳn nhiên các vùng trên lãnh thổ Việt Nam thầy đều đến,nên  bạn bè,khách  khứa phương xa  rất  đông.  Đà lạt có  những món ăn nổi tiếng nhờ rau củ, nên tìm đãi khách hai món ấy thì rất đúng gu,nhưng mà …Chị phu nhân phóng xe đi,  một cô hàng  rau nhìn theo, buột mồm:

- Giàu có sướng thật, hễ khách đến  thích ăn gì là có ngay.

Rồi nhìn chúng tôi. Các cô giáo  ở đây hay ghé chợ,nên bạn  hàng  trong chợ quen mặt.

- Hẳn cô ấy là  người ..giàu nhất trường này,phải không các cô ?  Con  chỉ có  một  ,mà  chồng thì lương cao..

 Chị thanh tra cười nhẹ, dấu hiệu không đồng tình cũng không phản đối. Có một bà ngồi gần đó,vừa   dùng dao tước nhỏ cọng măng trong rổ,vừa chép  miệng,giọng hoài niệm :

- Nếu nói giàu ở xứ này,thì không ai bằng ông Võ Quang Tiềm , ông Võ  Đình Dung cả .

Hai nhân vật này ,hình như tôi đã nghe nhắc  đến  đâu đó. À phải rồi,chiều hôm qua ở nhà bà bạn này .Nhà   có một cô cháu đang học vần,và  người làm gia sư cho nó chính là bà ngoại! Tôi thật  ngạc  nhiên .Bạn tôi vẫn tâm sự,  bố mẹ bà này là  những  nông dân Hai Lúa đích thực. Ông bố còn biết  ghép chữ,làm các phép tính,chứ bà mẹ thì .. Đứa cháu gái  đã sáu tuổi,  là  tân sinh viên năm nhất đại học chữ  to,ngồi  buồn rầu trên chiếc ghế  nhỏ đặt góc bếp,hai môi mím chặt, chân tay  rũ  ra , trong khi bà  ngoại thì cố hết sức chỉ  vẽ. Lối đánh vần của bà lão ngoài sáu mươi theo  kiểu cũ,  bê, xê, tê..  Tôi sững sờ vì thấy cụ đọc vanh  vách phần  minh hoạ. Rồi cụ  khen:

- Kể thầy cô viết sách cũng tài,thì “tổ y tế có cô y tá  “ là đúng rồi !

 Tôi cảm thấy tò mò và quyết tâm tìm hiểu :

- Bác học hồi nào,ai chỉ cho bác mà bác đọc..ngon lành vậy?

Bà cụ hồn nhiên:

- Học hồi cụ Hồ lên nắm chính quyền.

 Tôi  nhổm  người khỏi chỗ  ngồi.  Từ năm  1945. Khi ấy, bà cụ này  vừa có anh con trai cả,  và  bà chỉ mới  ngoài đôi mươi.

- Thì bác Hồ lên,người ta  kêu đi học. Ồ vui lắm,cứ chiều lo  cơm  nước  cho mau ,rồi đèn đuốc nách con theo, kéo cả lên đình làng nhà mình đây. Bút vở, cả đèn dầu,có ông Võ Quang Tiềm ,Võ  Đình Dung cho cả .Học giỏi có phần thưởng,  chén muỗng  đũa, gạo ,mắm  muối, cũng của các ông ấy cho.

 Rồi bà  nhìn lên vách bếp  ván,nơi bám khói vì  dư âm những  nồi cám lợn một thời.

- Hồi trước còn nhà cũ,chỗ này bác thưng bằng tranh tre. Muỗng được thưởng, rồi có mấy  người  làm nhà hàng cho Tây   đem về  cho trước đó, bác giắt cả lên đây.

-Rồi đâu hết mẹ ? Cô con gái chen vào .

- Ơ thì   Tây nó quay lại,     cả ấp đi tản cư, xuống tận Phan Rí, quay về thì  ở nhờ dưới Đất Làng,Cầu Đất. Muỗng giắt nơi vách tranh,người đi   từ đằng xa thấy lấp lánh,  moi rút hết.

 Tôi đùa :

- Hồi đó mà Bác   được đi học nữa chắc là..muỗng  giắt thành vách luôn !

 Bà cụ bỗng như tâm  tình :

- Ngoài  quê nhà  gần trường,kế đồn  lính,mà có cho con gái đi học đâu.

-Phải bế  em mà mẹ ?Hay là ra đồng ?

 Cô con gái lên tiếng. Tôi nhìn  bạn nầy,  như cùng hiểu là chúng tôi đang nghĩ về các cô Mười,Tư, mẹ của Hoa Tre. Tuổi năm sáu,nhà  nghèo,họ bị bán đi làm chị bế em cho các  nhà  khá giả trong làng.

-Thì cũng có lúc, chớ mà tuổi ấy  đã làm được cái chi , chỉ ở nhà  nhảy thôi..

Tức là   chưa thể  phụ   giúp   cho cha mẹ được  nhiều, bởi đây là tuổi   vui chơi,nghịch  ngợm.

Bỗng cả ba giật mình khi cô cháu bé  đã lẳng lặng  bỏ ra  hiên ngôi. Mẹ bé,người chị thứ của bạn tôi, đang ở  cữ  đứa thứ  tư,  bé này là   trưởng nữ,trên có một anh hai  Đôi bận chị gửi xuống đây để tiện đường đi học bên ngôi trường làng.Chị có lần thú nhận với riêng tôi:

- Hồi  đó giá mà chị chịu khó thêm một tí, chỉ làm cô giáo cấp  một,cũng  đỡ vất  vả ..Mà tội lười . Chứ  hồi chị cả  đi  học  mới  cực  kìa .

  Dạo cùng “chia lửa “ với nhau ở  dưới  Đồng Nai, có lúc người bạn kể lể rằng mình là kẻ thật diễm phúc vì được cha mẹ  luôn tạo mọi cơ hội để được ăn học tử  tế. Cô này bảo thương nhất chị cả,  thời chị đi học  trường rất xa, nhà một bầy em , có những  kiến thức đơn giản   về nhà không biết hỏi ai,dù lúc ấy mới lớp  ba  lớp  nhì  (lớp  ba, bốn bây giờ )nên  sau  một bữa bị sốt ho,rồi thế là …Sau này có bữa  một người em  họ bên  bố  từ Saigon về thăm,ông trách  bố mẹ  chị, rằng nhà  bốn đứa con đâu phải là đông, của ăn cũng không đến nỗi túng ,mà đành  để cho con  nghỉ học. Bởi theo ông chú  là kỹ sư công chánh này,  dù có làm ngành nghề gì, mà có chút vốn liếng chữ  nghĩa thì  mọi sự đều thông suốt . Nhưng bấy giờ cả thôn nhà nào cũng thế cả . Có lẽ vì  vậy mà sau này,đứa con nào thiết tha việc học,thì   được ưu tiên nhiều thứ .  Tôi lại  nhớ đến hình ảnh  các vị “mạnh thường quân” của   những ngày  đất  nước  được độc lập   từng được nhiều  người ca tụng,hai ông họ Võ  ngoài phố Dalat .Họ hẳn phải là  những trí thức giàu có, hiểu rõ  tầm quan trọng của giáo dục đối với  đời sống con  người  nên không ngần ngại    trích  một phần tài sản   để ủng hộ   nhà nước mới,mà lại đầu tư tích cực cho  giáo dục. Hơn hai chục ngàn cư dân thành phố này ngày ấy,một con số không nhỏ . Bà mẹ của cô bạn tôi  buổi tôi thường ghé nhà  đã ở tuổi gần  bảy mươi, ông hơn vài tuổi,nhưng nom yếu mệt hơn bà,ông lý giải là do  nghiện thuốc lào “ hắn  rút  người đi “ ông cười,còn bà thì  dường như tay chân không lúc nào  ngơi. Có anh con trai  út cưới vợ ở chung nhà,hai vợ chồng vừa sinh con gái đầu lòng,thì  nghỉ việc cơ quan ở Ty Nông lâm thuỷ để về làm vườn,rồi chăn heo gà. Chị  con gái thứ  lập gia đình gần đó, một bầy con.. Bà cụ loay hoay đàn cháu,rồi cơm nước cho đứa  nọ,coi ngó nhà cửa cho đứa kia ..Thế mà bà cụ rất thích  kể “chuyện đời xưa “. Cô bạn bảo, đó là  dấu hiệu của tuổi già . Tôi vốn rỗi hơn so  với  những  người quanh cụ, là bởi công việc đầy tính thời vụ của mình .Tôi thường tạt qua đây,phụ giúp  bà mẹ việc lặt vặt và nghe bà  tỉ tê. Có  những nhân vật huyền thoại, thí dụ như chuyện   một ông tướng  ở đền Cờn,ngoài quê bà .  Vị tướng  cầm quân tài ba này có một trận đánh  ác liệt cuối đời,đầu bị giặc chém lìa .Nhưng ông vẫn  ngồi ung dung trên lưng ngựa, tay bê  đầu. Đến  khu  đồi Cỏ may ở quê nhà, thì một bà Bụt hiện lên.Ông  hỏi bà  rằng :  người bị giặc chém đứt đầu thì liệu có sống được không ? Bà Bụt  đáp rằng không . Thế là con ngựa hất  ông ngã xuống.Lập tức mối từ dưới đất đùn lên,vùi  kín cả  vị tướng và tuấn mã. Nơi ấy được nhân dân lập  nên ngôi đền Cờn. Đền rất linh thiêng,ai đau ốm đến  xin thuốc đều khỏi . Bà  kể với niềm tự hào và  ngưỡng  mộ.   Tôi có  dịp  ngồi biên thư   dài dòng  với bố tôi, ông cụ bảo,  người  nước ta  khí khái, bất khuât như thế đó, cả  khi thất thế  cũng   giữ trọn    cũng không  lùi bước . Khi hai  người bạn thân, cô giáo bây giờ và Hoa Tre, từng tốt nghiệp cử nhân sư phạm Văn,tôi có đem nhân vật huyền thoại này ra kể,bởi có  lần  về quê,xe  chạy qua một  vùng nào đó,hình như là huyện Yên Thành,Nghệ An, tôi thoáng thấy một tấm bảng chỉ đường rất nhỏ “ lối vào đền Cờn “,thì hai  người kia trầm ngâm,   sau đó  một thời gian dài họ   ngập ngừng, có thể là một vị tướng của vua An Dương Vương chăng ?.  Riêng với hai  nhân vật họ Võ của  miền đất cao nguyên những ngày mùa thu 1945 ấy,tôi  vẫn luôn bị ám ảnh . Hẳn nhiên họ là  những con  người  bằng xương,bằng thịt. Thật tiếc là  trong  thời gian ấy,tôi không biết tìm hiểu ở đâu.

 Thế  rồi …  Khi Hoa Tre  nghỉ hưu,vào cuối  năm 2018, cô nàng đưa hai má  và cùng má con cô Kê lên Dalat “đổi gió “ vào một ngày hè. Việc đi  du lịch,nghỉ mát ở  xứ ngàn hoa này đối với  cô Kê không  có gì là  biến cố đặc biệt,nhưng  bà giáo già này bỗng tỏ ra thích thú vô cùng khiến bọn tôi  đóng vai  chủ nhà,thấy ngỡ ngàng.  Thì ra    bà giáo già này,  một giảng viên đại học,bảo trước đây đi   lên   Dalat chơi cứ như “cưỡi ngựa xem hoa” vì  trọ ở khách sạn, rồi   theo xe đi  lướt qua mấy thắng cảnh  có tên trong bản đồ, hồ nước ,ghềnh thác,cung điện,chùa chiền,rồi vội vã   ra về. Nhưng bây giờ có nhiều thời gian,  được thong thả bước chân, được trở về với quá khứ,được ngẫm nghĩ sự đời . Lý do ban đầu cô  bảo,là bởi ông  xã của cô, một cư sĩ  đang ở ngoài Huế,quê nội của ông, từng có  quãng thời gian  học hành khá dài ở đây,mười hai năm,trong một  khu trường dòng nội trú,trường Adran,của các sư huynh dòng Lasan. Hồi đó,cô kể  những gia đình khá giả đều tìm cách  gửi con học nội  trú,  xa nhà,chứ ở ngay Huế cũng có nhiều trường Pháp uy tín, mục đích là muốn tập cho con tính tự lập   ngay từ lúc còn bé.  Ngôi trường này  nằm  cuối con đường mà  mỗi   xuân thu nhị kỳ, con cháu họ Nguyễn Thái của bà bạn tôi  đều kéo nhau về  ngôi đền họ  để  bái cúng tiên tổ,đường Bá Đa Lộc ( Adran cũng là tên của vị giám mục này )nay là đường Lương Thế Vinh . Cô nhìn  bà bạn nhỏ của tôi ,bà Bé,rồi bảo :

-Hồi cư dân từ Nghệ An vào trước 1940  đều tập trung  sống ở vùng này,  vỡ đất làm rau,ông xã tôi kể vậy. Sau đó, chính quyền Pháp trưng dụng làm trường Adran,nên họ  được chia lô ở ấp Nghệ Tĩnh ngày nay. Rồi ông Xu Hiến,một người con  trong họ,  đưa anh em bà con vào,  dựng ấp thành làng thành mạc rộn ràng như bây giờ .

 Tôi vốn học dốt mà nhớ dai,bèn hỏi nay cái  nỗi ấm ức cứ  nén trong lòng :

- Vậy chú nhà mình hẳn có nghe nhắc đến hai ông  Võ Đình Dung, Võ Quang Tiềm .

- Biết chớ,vì họ đều là đồng hương với  ông xã  nhà cô !

 Chúng tôi ngơ ngác nhìn nhau,bấy giờ tôi mới biết hai bà Bé, Tre cũng từng nghe các bà mẹ nhắc đến tên tuổi hai vị”có máu mặt “của thành phố này từ lâu.

-Ông Võ Đình Dung có cô con gái cũng du học ở Pháp, là tiến sĩ vật  lý,  sau 1954  cô  về Việt Nam,gửi con cho  bố mẹ rồi đi tập kết, làm việc ngoài Bắc cho chính phủ Bác Hồ.

 Rồi không để chúng tôi thắc mắc,ngỡ ngàng,cô kết luận :

Có thể xem như gia đình ông bà Võ Đình Dung có công rất lớn đối với người Đà Lạt.

Chúng tôi rụt rè:

- Vậy ông ấy là ..

- Một  nhà thầu  khoán,nay gọi là thầu   xây dựng .'



Những công trình chúng ta vừa   ghé,như  nhà ga  Dalat, Dinh Bảo Đại, cả trường Đại học  Dalat  gần khu nhà chị Bé,cũng có công đầu tư lớn của ông ấy đó .

 Ghé thắp hương ở  chùa Linh Sơn, chùa Linh Quang, cô Kê lại thì thầm :

- Ông xã cô bảo  hai ngôi chùa này cũng có công đóng góp  về đất đai,công sức, tiền bạc của  ông bà Võ Đình Dung.

 

 Ghé thắp hương ở  chùa Linh Sơn, chùa Linh Quang, cô Kê lại thì thầm :

- Ông xã cô bảo  hai ngôi chùa này cũng có công đóng góp  về đất đai,công sức, tiền bạc của  ông bà Võ Đình Dung.

 Hoa  Tre  như chợt nhớ ra điều  gì .

-  Má Mười thường hay nhắc  về ông Võ Quang Tiềm.  Bữa  đi chơi Dinh Độc Lập,má nói  cái ông  thiết kế khu  dinh thự  này là  ..hình như con rể ông  đó.

 Cô Kê gật  đầu :

-  Ông Ngô Viết Thụ. Ông  cưới con gái ông Võ Quang Tiềm. Ngoài Dinh Độc lập,  ông  này còn  thiết kế  nhiều công trình  nổi tiếng ở  xứ  Dalat của các bạn,  như Lò   Nguyên Tử Lực bên Đa Thiện, Giáo  hoàng học viện thánh Pio  X,   chỗ  mé Đồi Cù, kế bên trường của chị Bé, hay cả chợ Dalat .

-  Vậy ông  Tiềm cũng là  một kiến trúc  sư   à ? Bon  cháu nghe kể  nhiều khách sạn ở phố, như khách sạn Anh Đào này,hay nhiều khách sạn nổi tiếng ở Dalat,từng mang tên ông .

 Tôi chen vào.

- Không,  xuất thân ông là một thợ may ,  kiêm  buôn bán  nhỏ .

Chúng tôi đều  ồ lên bất ngờ, cô Kê  thong thả  thuyết minh .

Người ta kể   buổi ban đầu từ Huế  vào, ông chú tâm may quần áo  cho khách đến đặt hàng, rồi dần dà ông  buôn bán,cứ mua đi bán lại mọi thứ hàng hoá. Dần dần,ông

 Ông Tiềm  trở thành   một trong  những  đại lý lớn ở Đà Lạt bán sỉ lại cho các tiệm bán lẻ trong vùng cao nguyên từ Đà Lạt ,   qua  Đơn  Dương, xuống Đức Trọng,  rồi vùng Đồng Nai thượng .Ngày ấy  việc kinh doanh do  người Pháo chủ động, chiếm ưu thế,   vậy mà ông  này là  người Việt duy nhất ở Đà Lạt đủ sức cạnh tranh với hàng loạt hiệu buôn của người Tàu, người Ấn. Có lúc  họ phải nhờ cậy  ông  chia lại cho họ các  món    có giá thành cao  như  rượu, thuốc lá...”.

Ông này quả là có   tài kinh doanh. Mà trước hết là ông rất cần cù,lại giữ chữ tín .

-Ông Cụ  Tiềm là một trong những người đóng góp nhiều nhất cho quỹ "Tuần lễ vàng" tại Đà Lạt năm 1945, với tư cách là một nhà kinh doanh địa ốc giàu có và sở hữu nhiều tài sản tại miền Nam Việt Nam và nước ngoài. 

 Cô Kê kết luận ,ánh mắt cô bỗng mơ màng,bâng khuâng. Cô tâm sự rằng chợt lúc đó cô  nhớ đến thân sinh cô,một trí thức  Việt từng hợp tác với  người Pháp. Ông bà cũng dùng  nhiều  tài sản  của gia đình để hưởng ứng  tuần lễ Vàng năm   1945  không thể nào quên ấy.Nhưng khác với ông cụ Tiềm.  Sự đóng góp của ông  đến tự đáy lòng,bởi  tất cả không phải do bổng lộc,mà do  mồ hôi, sức lao động  gian khổ của một  người dân  xa quê từ tuổi thanh niên với hai bàn tay trắng .


Tôi hồi tưởng :

 Hồi  con lần đầu gặp chú    Thiện ở  nhà thờ, con cứ  nghĩ chú là  người Nam Bộ.Nào ngờ ..

- Thì cũng là cái duyên.

Chúng tôi ghé qua chợ ăn trưa,cô Kê  lại  đưa chúng tôi đến một bất ngờ khác :

- Cô từng đi Huế,mà về xứ cao nguyên này,vẫn có cảm giác .. Thí dụ  bánh bèo này,bún bò giò heo này,rồi chè đậu này,mà người bán cũng nói  đặc sệt giọng     người miền quê nội các con cô .

 Cô Mười   ngồi gần đó lên tiếng :

-Nhớ hồi  bọn tôi  bày ra làm mấy món  mứt tết, mứt gừng,mứt dừa,mứt đậu trắng, cô  Kê  ngạc nhiên  lắm,ủa ai  bày mấy chị làm món Huế nhà tôi vậy ? Tôi cũng  lấy làm lạ, thì cứ thấy  mẹ chị Bé hồi trước làm,mình làm theo. Cô Kê  hỏi,bà cụ ấy    cũng người Huế à ? Không,nghe đâu .. xa hơn,cùng quê với bọn tui,ở vùng Thanh Nghệ Tĩnh . Ông chồng cô Kê lại biên thư vào  giải thích,là bởi họ thấy  các món ấy   được  người  gốc Huế chế biến,ngon  thơm mà dễ  làm .

 Cô Kê cười :

- Tôi nói các chị Dalat đây,cả Hoa Tre nữa,đừng giận nghe,là tui có cảm giác vùng chị Bé có chút là ..bản sao xứ chồng tôi. Là tại sao ?Thí dụ như từ “Mụ” để chỉ  người phụ nữ  tuổi cao,   đức độ, gia đình đầm ấm. Người gốc Nghệ có từ “Con mệ” là cách gọi xách mé,tức là thiếu tôn trọng. Nhưng họ dùng từ mụ. Hay cách dựng nhà chữ đinh, bài trí ở khu nhà trên,có bàn thờ gian tiên,chỗ  nghỉ ngơi của chủ nhân,rõ ràng mang công thức từ Huế .

 Ba đứa tôi nhìn nhau.So với  bà giáo già đáng kính này,thì  luc chúng tôi chỉ là bọn hậu sinh khả uý,nên  biết đường đâu mà  phản biện nay nọ . Tôi  chợt nhớ đến người chị cả của bà Bé, cô bạn tôi  đây.Chị  lập gia đình vùng Cầu Đất,nơi đây phố chợ tập trung nhiều người Hoa. Ngày tết họ có món bánh tổ, một loại bánh nấu từ nếp và đường,rồi  để nguội, sau đó cắt ăn  dần, càng  cũ càng lạnh càng ngọt càng ngon, nhất là lúc tiết  trời buốt giá,ngồi co ro bên ly trà đắng chát,nóng bỏng môi. Nơi đây cũng  tập trung nhiều cư dân vùng Nam Ngãi Bình Phú  với  món bánh thuẫn ngày tết.Bánh nướng  than gồm  hỗn hợp bột mì, đường,  trứng,  khuôn là  những  khối tròn tròn như trẻ con   được định  sẵn từ một cái lò nhôm  chắc chắn,nom như cái  nồi cơm có nắp đậy, khi  đúc bánh than  nóng được gặp lên trên nắp lò. Do công việc của  một dân buôn  nông sản,goi cho to chứ thực ra tôi  chỉ thu mua  dâu,hoa lá Ắc ti sô, trà cà phê theo mùa,nhưng tôi phải đến tận nơi,theo dõi khâu trồng trọt, chế biến,  để tạo niềm tin cho khách hàng. Nhưng   bởi dọc ngang khắp  mọi ấp phường,có  người   đùa bên giờ  lãnh thổ tỉnh Lâm Đồng kéo dài  xuống biển, hẳn tôi sẽ kinh doanh thêm món hàng hải sản,nên tôi gặp gỡ   mọi cư dân khắp các vùng miền.  Tôi hiểu  được vài câu giao tiếp thông  dụng của  tiếng Cil,Lach, Sre của người đồng bào vùng Lạc Dương, Tà Nung,phân biệt rõ   âm  giọng của  người vùng Bình Định,Quảng Nam,  Quảng  Ngãi, Phan Rang, hay người gốc Nam  Bộ  của cô Kê. Có người thắc mắc thì tôi đùa,do tôi hay đi tàu lửa ra Bắc  một  dạo,hễ cứ  nghe âm giọng  vang lên thay đổi khi   ga mới xuất hiện,thì tôi biết là mình đang ở   miền quê nào ,tỉnh thành nào. Ở vùng cao nguyên này, trừ một vài nơi  còn thuần giọng nói một vùng  quê,thí dụ như qua bên ấp Hà Đông,hay các  vùng xứ đạo định cư sau  1954,ở Tùng Lâm, Du Sinh,  thì  nghe giọng Bắc,hẳn nhiên đã bị pha trộn,hoặc vùng Thái Phiên, vùng ấp Ánh Sáng thì nghe giọng Huế, vùng Nghệ Tĩnh giọng quê hương của họ, nhưng  có một âm hưởng chung của hơn hai trăm năm mươi ngàn cư dân,ở đây, là giọng nói cao nguyên, mai kia  hợp với vùng biển Bình Thuận Phan Thiết thì  giọng điệu  vẫn thế,có pha trộn giữa giọng  người miền Nam và miền Trung.

 Tám mươi năm đã qua. Những học viên lớp bình dân học vụ ngày nào - mà  bà cụ  thân sinh bà  bạn tôi đùa,rằng có  người đùa là “bò dê heo vịt”vì đi học   siêng, học giỏi thì được thưởng,có  người được  bê cả cặp gà, cặp vịt  con về nuôi, gầy dựng lên mãi thì có được   đôi heo  giống,rồi thế là có   cặp bò ..- nay đều đã ra người thiên cổ. Những biến cố lịch sử    từ tám mươi năm trước,họ hiểu mơ hồ,theo cảm nhận của  người dân, rằng Pháp từng đô hộ xứ này, sau  đó thì Nhật lại tràn vào, rồi Pháp quay trở lại,rồi   núi cách sông ngăn, mà về sau, một  người con của họ, thủ tướng Phạm Minh Chính, đúc kết “ sau đại chiến thế giới lần thứ hai, thì Việt Nam là một trong những dân tộc chịu nhiều đau thương mất mát,  trải qua nhiều cung bậc  xấu nhất,tồi tệ nhất. Bởi  họ phải đứng lên chống phát xít ngay sau ngày độc lập 2.9.1945, rồi tiếp ngay đó là tham gia chống đỡ chủ  nghĩa thực dân cũ, rồi lại  lao vào   cuộc kháng chiến sau ngày đất nước  chia đôi ..” Tám mươi năm ấy, dù kẻ miền Bắc,người miền Nam,có  người ở mãi trời Âu,  vẫn  da diết một quyết tâm : không có gì quý hơn độc lập, tự do .

 Trong bộ ba vườn đào,thì  Tre và tôi bị các chị của bà Bé lên án ,hai con đó  là thứ hàm hồ,  nhưng họ lại khuyên cô em mà họ chê là”lù đù” nhưng mày phải cố học lấy thứ ..hàm hồ hàm chướng đó !

 Bởi thứ hàm hồ của chúng tôi mang một chút “không khí”  câu viết bằng phấn trắng trên tấm bảng sơn đen của ngôi trường bà Bé ngày nào, à nói đúng ra là bắt  nguồn từ  tính  nghịch ngợm tinh quái của bọn học trò tuổi mới lớn,nhưng bọn tôi lấy làm tâm đắc, nhân lên thành một  triết lý sống, rằng “Hễ ai mà dám xâm phạm đến   nền độc lập,tự do của chúng tôi hôm nay  thì…chúng tôi sẽ không để cho họ yên ! “.Nghe có vẻ khẩu khí quá,nhưng đậm phong cách ngôn ngữ chính luận  đấy chứ !

 Dù đã ở tuổi   bảy mươi, nhưng so với các thế hệ  đã từng   đứng lên giữ gìn giang sơn gấm vóc này, thì bọn tôi chỉ là  những đứa trẻ. Vẫn cảm thấy mình luôn có trọng trách với quê cha đất tổ .

                              GIANG- BÉ.  

 

 

 

 


No comments:

Post a Comment