Ba bà lão chúng tôi, Giang,Bé, Thanh, từng có một thời là các cô giáo gõ đầu bọn tuổi mười một đến mười bốn,mười lăm. Có một cửa ải đầu tiên và gian nan( theo cách nhìn của mọi người ngày ấy) mà chúng tôi phải vượt qua cho bằng được,đó là kỳ thi tuyển vào trường Cao Đẳng sư phạm,nơi chúng tôi chọn ( mà vì ngày ấy hệ thống trường này ở các tỉnh chưa có ) tại thành phố Hồ Chí Minh, đào tạo giáo viên cấp Hai cho toàn các tỉnh miền Nam . Bà Vân Thanh dù cùng tuổi giấy tờ là 1957, nhưng do từng tham gia lực lượng Thanh niên Xung phong nên vào học sau chúng tôi một hai khóa gì đó,bà ấy có kể mà tôi không chịu lưu lại trong bộ nhớ, tự hào rằng mình thuộc diện “ cán bộ đi học” nên kỳ thi vào đây chỉ có hình thức “ hợp thức hóa”. Tôi thì, thôi cứ kể ra vì dù sao mọi chuyện đều là quá khứ, tôi có người cha từng là chiến sĩ Điện Biên,là cán bộ cấp cao của ngành nông nghiệp, quen biết nhiều,nên ông đã tìm cách “ lo liệu”, và vì thế,kỳ thi cũng là một kiểu…như bà Vân Thanh.Chỉ có bà Bé là phải gồng mình lên mà học bài,làm bài . May là ngày ấy đất nước vừa thống nhất,trường cấp Hai mở ra khắp nơi, giáo viên thiếu trầm trọng, , nên hình như ai nộp đơn là đỗ,thậm chí Nhà nước còn tuyển tất tần tật những sinh viên từng học đại học năm thứ nhất,thứ hai các trường tại Saigon trước đây,ghi danh vào học, và khi về Huyện,tôi còn biết có nhiều thầy cô từng là giáo viên tiểu học lâu năm cũng được cử qua dạy trường trung học cơ sở, có người còn làm Hiệu trưởng, Hiệu phó những ngôi trường có hai cấp học này , đủ biết ngày ấy ngành giáo dục cần thầy cô giáo cấp Hai đến chừng nào .
Tôi không thể đeo đuổi đến cùng nghiệp bảng đen phấn trắng, vì,có lẽ Thượng đế muốn thế,bà Vân Thanh cũng vậy,còn bà Bé miệt mài lên lớp,mà còn từ buổi dạy bọn lau nhau lớp Sáu,Bảy, sau nhiều năm, bà này nghiễm nhiên là một cô cấp Ba . Cũng phải qua một kỳ thi tuyển gắt gao, mà Tre cùng đi thi thấm thía lắm, thí sinh đầy mấy chục gian phòng mà cuối cùng gom được ba lớp, trong đó có một số thuộc đại học dự bị chuyển qua,rồi số sinh viên từ đại học Cần Thơ chuyển lên, riêng lớp A của Bà Bé thì một phần tư là lớp thuộc diện năm xưa của bà Vân Thanh( hẳn nhiên họ cũng phải trải qua một kỳ thi như mọi thí sinh khác )Tre ấm ức :chị Bé đi thi, học bài có hai tháng hè, mà rồi còn bị sốt rét hành hạ lên xuống, mà chị ta tự tin lắm, rằng : tớ có rớt thì qua dự bị học thêm một năm,rồi trước sau gì tớ cũng về một trường cấp ba nào đó .. Vậy là bà này còn bảnh hơn bà Vân Thanh. Trường dự bị đại học gọi là Đại học Nguyễn Chí Thanh,( vì trường nằm ở trên con đường mang tên vị tướng tài ba này ) ưu tiên cho ba diện thứ nhất là quí vị con ông cháu cha mà học hành.. thiếu điểm . Họ có bố mẹ là cán bộ cao cấp của Nhà nước, diện thứ hai, chính là cán bộ từng một thời xông pha lên thác xuống ghềnh, đi thi với tâm lý là “ sang dự bị học thêm một năm “ tất tần tật ngành nào cũng có . Diện thứ ba là dành cho những thí sinh “gạo trên sàng “ :họ thi đỗ hạng nhất mọi trường đại học,được tuyển đi học ở Liên Xô và các nước Đông Âu,về đây học một năm ngoại ngữ, tiếng nói của đất nước họ sẽ đến học.Cho nên hai diện “ con ông cháu cha “ và ‘ cán bộ “ có khi còn tự hào: thì bọn tớ cũng là diện dự bị để..du học. Nhìn vào mấy lớp này là biết thế nào, vì tôi có nhiều bạn bè, người thân ở đây lắm !
Tôi nhớ khi ngồi kể lại chuyện này,Bà Vân Thanh ranh mãnh nhìn tôi :
- Sao hồi thi vô đại học sư phạm ngoài Bắc, dạo vừa hòa bình, bà không nhờ ông bô ( cách Thanh gọi bố ) gửi gắm, để phải khăn gói quả mướp vào tận Phương Nam này ?
Thanh vặn vẹo thế bởi tôi từng khai :tôi đã thi vào đại học sư phạm, ngay năm 1975,mà “đậu cành mềm”. Dạo ấy hai miền Bắc Nam vừa thống nhất,bố tôi được điều ngay vào Nam công tác, như rất nhiều cán bộ miền Bắc ngày ấy. Tôi thấy ông bận rộn hơn cả các bác nông dân, vì ông bươn bả hết mọi cánh đồng miền Tây,rồi lại xộc qua miền Đông, cho nên dù dẫn tôi theo ( vì tôi vòi vĩnh,dù tôi đang trong thời gian ôn thi vào tháng 8.1975 ) ông cũng không có thời gian ngó ngàng đến, chỉ dẫn tôi vào một khu cư xá vắng tanh,vì người dân đi di tản cả, dúi cho tôi một ít tiền,gửi gắm tôi cho chú phóng viên nhà báo ở gian kế bên, rồi thế là lao ra chiếc xe Jeep bộ đội đang đón sẵn. May là ông còn có thời gian để nhớ rằng mình còn có đứa con gái đang ở không xa chỗ mình công tác,nó đang chuẩn bị thi đại học, thế nên khi gần đến ngày thi,ông nhờ người mua vé tàu cho tôi ra Hà Nội một mình.
Tôi thở dài :
- Tại bố tớ quá tin tưởng ở tớ..
Rồi tôi cũng thật thà khai báo :
-Hồi vô Cao Đẳng ở Thành phố Hồ Chí Minh,nếu tớ muốn bay qua bên Đại học cũng được,nhưng lúc này tớ khôn hồn rồi ,biết mình ra sao để sau này đi đụng độ học trò còn biết đường liệu cơm gắp mắm.
Tôi trọ học ở nhà chú Toàn,em ruột bố tôi,một năm để hoàn thành chương trình đào tạo cấp tốc của trường Cao Đẳng sư phạm thành phố. Chú thím Toàn có hai người con trai lớn là một cặp song sinh cùng tuổi với tôi,chọn khoa Hóa trường Đại học Sư Phạm. Họ cậy nhờ bố tôi ,nói theo cụm từ thuở ấy ,là “gửi gắm”. Từ dạo về sống chung nhà với bố, mẹ Thu,người vợ sau của bố tôi, và hai cậu em trai con chung của họ, em cùng cha với tôi tại Hà Nội , tôi thấy bố tôi có nhiều người bạn là thầy cô giáo bên Bộ Giáo Dục,rồi là trường Đại Học Sư Phạm tạt qua nhà chơi, ăn uống, trà đàm. Hai người em sau này, nhờ qua mối quan hệ của bố mẹ mà nhẹ nhàng vào học những ngôi trường đại học họ chọn,tôi biết rõ vì khi tôi rời vùng quê ở Đồng Nai xa xăm,quay ra Hà Nội,họ kín hở cho tôi biết việc họ học và thi ra sao, rồi trách tôi sao không năn nỉ bố mẹ .. Họ thì thầm, đi Liên Xô cũng … Tôi nhớ có nhiều đêm, nhà chú thím Toàn tiếp những người khách mà tôi từng bê nước ,dọn cơm mời ở nhà bố mẹ mình, rồi những món quà rất có giá trị thím sai tôi đóng gói cẩn thận để “ kỉnh các thầy Hà Nội”.Từ “ kỉnh “ cũng là từ lần đầu tiên tôi nghe . Những ngày miền Nam vừa được giải phóng,tôi theo bố vào,khi trọ bên khu cư xá cũ đối diện với nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi,khi qua nhà chú thím,thường xuyên tôi nghe tiếng thím rầy la hai anh con trai lớn, ( chú đi học cải tạo ngoài miền Trung ), có lẽ việc học tập của họ ở trường,trước đây họ học trường Pháp,nay chuyển qua hệ trường Việt,họ lại cùng có hai cô bồ, tức là người yêu,theo cách gọi của vùng này,nên có phần chểnh mảng. Tôi hiểu thím lo lắng cho tương lai của họ. Thím rất bận, dù con nhỏ mới sinh cách đó một năm,nhưng thím vẫn nhiệt tình tham gia công tác Hội Phụ nữ Phường,mục đích là để có thể xin ân giảm cho chú. Hai anh con trai cũng khổ tâm lắm.Họ bảo : Má la một câu mà nó nằm miết trong đầu cả tháng trời luôn ! Ngồi học mà óc cứ nóng bừng lên. Thế rồi sáng sáng ba anh em cùng trực chỉ về hướng đường An Dương Vương,tôi tạt qua bên trường Cao Đẳng, còn họ thì ung dung rẽ vào trường ĐạiHọc Sư Phạm. Sau này khi họ qua Mỹ,có dịp gặp lại,tôi biết họ vẫn đeo đuổi ngành chuyên môn họ từng chọn học là Hóa, mặc dù không thuộc về giảng dạy.Kể ra họ cũng có năng khiếu và đam mê, nhưng chú thím vẫn “ chạy chọt”vì có như thế mới yên tâm.
Tôi kể thêm một chút về cuộc thi làm cô giáo của hai nàng Bé Tre vào một mùa hè năm 1981. Tre từ lâu chẳng nuôi ước mơ làm cô giáo, bởi từ bao giờ nó đã biết với ngoại hình hơi khác người,liệt cánh tay bên phải,thì cũng như tôi,liệu cơm mà gắp mắm,rồi lại có nhiều người khuyến khích, nó chọn ngành làm thầy kiện,ngành Luật. Nhưng đùng một cái nàng ta ôm bụng trống to chang bang. Biết tin chị Bé dưới Đồng Nai được nhà nước cử đi học tiếp về dạy khối cao hơn, hai má Mười -Tư dỗ dành Tre “xuống La Ngà ôn bài với chị, rồi cùng đi thi ,trời thương cho đậu thì đi học xa nhà có chị có em”. Hai má vốn là “ người lớn” nên nhìn thấy đường xa, rằng ra làm cô giáo thì buổi lên trường,buổi ở nhà trông con, hè được nghỉ mấy tháng,chứ mà làm thầy kiện, đã làm việc ban ngày,có khi còn phải làm đêm . Nàng Tre xưa nay vốn bướng nhưng bây giờ nghe cũng thuận tai,bèn làm theo răm rắp.Nhưng khi gặp bà chị,bà này khoe khoang thì Tre thấy cụt hứng.Bả thi mà không mong đậu,vì có mấy tháng ôn,tư liệu thì học trò cũ mang đến cho bộ ba cuốn Văn, Sử,Địa,bắt đầu học từ trang số 1, mà Tre đã nhào nuốt đến nhão từ khi nộp hồ sơ, rồi lại suốt ngày hết sốt lại rét,nên thản nhiên : tớ làm sao đua với tụi phổ thông lên như bọn mày, có rớt cũng qua dự bị ,thôi cố thêm một năm,dù sao về phố lớn có điện,có nước máy, muốn đi coi xi nê,coi ca nhạc cũng tiện,lại đỡ phải ăn cơm độn,đau ốm thuốc thang dễ kiếm hơn .. Và bà ta đắc thắng . Hồi nhỏ, vô được trường công, bọn tớ học một lèo đến lớp Mười Hai. Ngỡ thi IBM nên học ngày học đêm, nào ngờ “ sơn hà thay đổi “ tớ thi tốt nghiệp cứ như đi kiểm tra học kỳ. Thi vào Cao Đẳng cũng nhẹ nhàng . Giờ thi đại học chuyến này thì. .. Mong sao vô đại học, tớ sẽ cố, để ra trường tớ được chọn chốn hồi hương . Thế là Tre bỗng thấy mình ..nghĩ lùi.Ừ,mình đang nghén,suốt ngày ôm sách mà bụng cứ ọc ạch như kẻ bị đau dạ dày, mà rồi đậu thì qua học kỳ hai là sẽ đi nằm ổ. Đã thế, vừa học vừa trông con,ai bế nó cho mình thanh thản nơi giảng đường . Thôi chi bằng .. sang năm thi lại.Giờ về nhà quay đi quay lại là đến ngày em bé nó đòi ra, mình cứ ở nhà, gạo mắm có hai má lo. Ở nhà một năm,ôn luyện kỹ, rồi khi chị Bé từ dự bị qua,mình cũng đường hoàng vào ngôi trường đúng nghĩa “ Đại học Sư phạm” . Tre tính toán như thế , bởi vì là …Từ mấy năm nay, khi Tre lên học cấp ba, hai cô Mười Tư không còn là các chị tạp vụ ở các cơ quan hành chính,mà chuyển sang làm cấp dưỡng cho các bếp ăn tập thể . Họ vẫn có hai người hai chiếc xe đạp,mọi khi ra ngõ thì ai đi đường nấy,nhưng bây giờ được gom về một nơi,không xa nhà bao nhiêu. Sáng rời nhà rất sớm , tối về muộn, nhưng trên yên sau của xe mỗi má đều ràng nịt theo một chiếc thùng nhựa hai mươi lít,đậy điệm cẩn thận,mọi khi thứ thùng này ở vườn nhà chị Bé, các chú làm công chiết thuốc Diazinon,thuốc bột DDT rồi trộn vào các bình phun, để diệt sâu bọ các thứ đến cắn phá rau hoa mùa màng,bây giờ thì đầy lủm “nước cơm “thứ nước chắt ra sau khi vo gạo, rửa bát, dùng để đun với cám cho heo ăn rất tốt, thay vì phải mua thêm cám, bánh dầu như mọi khi hai má chăm mấy chú heo sau nhà, và mỗi tháng thì tiêu chuẩn tem phiếu, mua gạo thit mắm muối..các thứ thì “ vẫn nguyên vẹn”, bởi “ xé mắm thì mút tay “ đó là qui luật.
Nhưng rồi có một yếu tố nào đó khiến hai nàng này bỗng thấy cần phải “vùng lên” nghĩ tiến chứ không tính lùi nữa . Ta hãy chờ .
Bởi Hai bà Bé và Tre còn than thở nỗi khổ thi cử từ tuổi lên mười , đúng ra là mười một.Học hết lớp Năm ,muốn lên lớp Sáu, để có thể tìm một chỗ ngồi trong ngôi trường công lập tỉnh, họ phải trải qua một kỳ thi “ gian khổ nhất trong đời” . Bà Bé hồi tưởng :
- Trường tớ có hai lớp,ngót nghét chín chục đứa,mà thi đậu vô hai trường công ( trường nam và nữ học riêng ) thì tổng cộng chỉ đúng ..mười đứa !
Tre đồng tình. Dù ở cùng thôn,nhưng nhà Tre ở trên đồi,từ đó băng qua ngôi trường mang danh “ phố “ tiện hơn qua trường làng, vì từ cổng nhà có con đường làng rải đá, đi một quãng là bon bon đường nhựa,mà đường làng hết mùa sình kéo dài cả tám tháng,ba tháng nắng lại bụi, đường còn có mấy con suối, cầu gỗ chênh vênh, trẻ con có mấy đứa bị ngã, và không cứu được, nên anh Đa nuýp xanh hồi ấy có “ quen biết”,vả lại do tình trạng sức lực ( Tre bị liệt tay phải ) nên hai má Mười - Tư cũng đồng ý cho Tre xin học ở đây,trường Võ Tánh, nay là Nguyễn Trãi , ước nguyện ban đầu của hai má là “ ở đó học dễ thi vô trường công hơn”. Bà Bé kể,ngày con bé con biết sẽ đi thi ở cơ sở này, thay vì kéo ra trường nữ như các chị trong xóm, có lẽ vì thí sinh quá đông nên họ mở thêm mấy phòng ở đây, nàng ta lo lắm ,vì thấy lạ nước lạ cái . Nhiều năm rồi cứ nghe “ trường phố “ thì nghĩ là có lầu cao, phòng ốc rộng rinh , học trò mỗi đứa một bàn một ghế, một hộc tủ, cứ mỗi một môn học lại kéo nhau qua một gian nhà khác .. như mấy lần coi trong xi nê người ta chiếu cảnh học trò tận bên Tây . Buổi chiều trước ngày thi,bà này đứng ngẩn ngơ ở hiên nhà nhìn qua ngọn đồi của ngôi trường phố ấy,có chút lo lắng .May sao anh Đa nuýp xanh đọc được nỗi phiền toái trong đầu nhỏ kia. Mấy chú cháu kéo nhau đi ..coi, ( dù là lén băng rào đi lẻn phía sau ) nhưng cô nàng thấy tự tin ngay. Ồ thì cũng như lớp học trường làng của mình. Bốn năm dãy bàn dài mỗi bên,một lối đi ở giữa,bảng quay có hai mặt ,có thể chui ra sau khi cô giáo sai lên viết giờ chính tả ( để tụi nó ngồi dưới lớp không cóp bi ) , đến khi cô giáo chấm điểm thì quay lại, cả lớp theo lời cô giáo sửa mà chấm chéo cho nhau; bàn cũng có năm lỗ,đựng lọ mực chế sẵn cho năm đứa,có điều người ta cất cái cô đê ( tức là cái lọ sứ đựng mực ) đi rồi,chỉ còn mấy cái lỗ trống hoác,anh Đa nuýp xanh bảo : để đề phòng người ta nhét bài làm sẵn vô đó ! Chà,thi cử có hàng trăm người canh mà cũng tính chuyện cóp bi nữa,gan thiệt ! Bàn giáo viên cũng cũ kỹ, có khi còn sờn tróc hơn bàn thầy cô trường mình nữa chứ, tủ kính nho nhỏ cũng cỡ dạng tủ lớp bên trường mình,là nơi cô thầy cất sổ sách,cả vở học trò thu về chấm mà chưa kịp trả .Chỉ khác là trần nhà có gắn cái ống trắng dài dài,bóng đèn điện , anh Đa nuýp Xanh giải thích . Ồ,có gì khác trường làng đâu. Con bé có chút tự tin . Hồi ấy biến cố Mậu Thân vừa xảy ra, nên ngày thi bị dời, cả việc học của anh “dẫn đường”kia cũng có chút ít xáo trộn. Anh dặn :
-Nay ổn rồi,giờ mình biết chỗ thi ra sao, thấy yên tâm hơn phải không ? Mày đã học kỹ như cháo mọi thứ,làm tính đố với tập làm văn mày cũng ngon rồi,thì cứ yên tâm về nhà,tối đi ngủ sớm,sáng dậy ăn no rồi ra đây thi,có gì đâu.
Ngày Tre đi thi,bà chị Bé cũng tìm cách dẫn cô em ra trường nữ ( nay họ không mượn thêm trường như hồi nào ) để ..coi chỗ thi cho biết .Nhưng ông cai không cho vô.Bà chị cũng động viên cô em y chang như thế .Hẳn nhiên mô tả sơ ngôi trường mà đứng ngoài,họ chỉ thấy ngói đỏ và vô số ô kính lấp loáng,nhấp nhô, dễ thương nhất là vòm cổng có hình một chiếc ruy băng màu xanh da trời kết nơ rất dỏm dáng.
- Có lầu,cầu thang đi lên mỗi đầu hồi nhà, hồi tớ học đệ thất và lục thì dưới, sang đệ ngũ mới lên lầu,dãy bên tay phải từ cổng vô nè, phía sau hàng rào là đường dẫn vô khu nhà dân.
Qua đệ tứ ( lớp chín) chuyển học buổi sáng, tụi tớ qua dãy bên trái, cũng học lầu.Bên này phía sau có vườn cây cổ thụ, mùa tết mai anh đào nở rộ, đẹp lắm .
- Chị thích học ở trệt hay lầu ?
- Ở đâu cũng thích .Học bên dưới xếp hàng ra vô lớp, khi tan trường cũng nhanh hơn,nhưng học trên lầu ngồi ngắm hoa mai nở, hay nghe chim hót trên những rặng thông,cũng thích .
Bỗng Tre lên tiếng đầy bất ngờ :
- Bạn em hồi học chung với em dưới Saigon từ hồi mẫu giáo, vừa lên nghỉ mát, nó chê trường nữ mà cây cối ít quá, vì nó sẽ thi vào một trường nữ dưới vùng Lục Tỉnh, nó khoe trường nó sẽ thi vào có cây cố cổ thụ xanh rì,đứng ngoài chẳng thấy mái trường đâu cả .
Kiểu nói chuyện này khiến bà chị cụt hứng.Nhưng :
- À thì.. Rồi cô chị reo lên : khi Tre vô đây, sẽ ra sân bóng chuyền ,ở đó có cả rừng thông, ngó qua viện Giáo Hoàng của các ông frere ,có hàng rào là hai hàng thông cao và dày . Ngó qua Đồi Cù thì khỏi chê,bạt ngàn đồi thông xanh.
Cũng như bà chị, Tre có bảy năm học tập, trưởng thành ở đây. Khi ra làm cô giáo đứng lớp, rồi làm cán bộ quản lý, khâu giảng bài thì mỗi tuần chỉ dăm ba tiết,nhưng việc “ dỗ “học trò ( vì nghề giáo là nghề vừa dạy, vừa dỗ bọn trẻ )ngốn hết thời gian,Tre mới giật mình nhận ra, tất cả những lời nói , cử chỉ, thái độ, cảm xúc dồn cho công việc và đám học trò,đều là bản sao của mười hai năm đèn sách,từ ngôi trường “ phố nhưng vẫn đầy chất làng “ và nơi chỉ rặt học trò con gái. Tre không được sinh ra từ đây,trong những con người gắn bó có phân nửa giòng máu đỏ da vàng, nhưng mà trong cô gái trẻ này vẫn da diết một tình yêu thân thương,bởi “ ngôi trường là một góc quê hương”. Tình yêu ấy cô chia sớt cho một góc miền phương Nam xa xôi,sông nước kinh rạch chằng chịt, những cánh đồng bát ngát chạy đến tận chân trời .Đây là quê hương của mọi người trong đại gia đình Tre,hai bà má,một đứa con gái,ba đứa cháu,và những đứa chắt..
Những ngày ấy, anh Đa nuýp xanh cũng là học trò,vì ôm mộng làm sinh viên của khoa Quản trị kinh doanh trên đại học để mai kia làm nghề đếm bạc ở nhà băng,nên anh này cũng cố dùi mài kinh sử, tất nhiên cũng nhọc nhằn biết bao trước những kỳ thi.
- Ngoài quê, tao cũng thi vô đệ thất trường công như tụi bây chứ bộ . Giờ tao lo thi để lấy cái bằng trung học đệ nhất cấp, để lỡ nếu tổng động viên bị kêu đi quân dịch, tao được hưởng lương trung sĩ !
Ông anh này già đanh rồi ,bởi vì ngoài quê chiến tranh bom đạn ùng oàng,đậu đệ thất,mà rồi phải bỏ dở dang chuyện học mấy năm, giấy tờ cháy rụi ,vô đây học lại lớp đệ thất ( lớp Sáu ) mà tuổi lẽ ra đi thi.. lớp đệ tứ ( lớp Chín ). lấy bằng trung học đệ nhất cấp . Phải nói là ổng thông minh,vì đâu được ngồi yên trong nhà mà học như hai con bé kia,mà còn ra vườn,rồi ổng còn nhiều việc khác nữa, tức là “ người lớn họ sai,thì mình phải làm chứ”. Thi lấy bằng trung học anh Đa nuýp xanh đỗ hạng bình( có ba dạng :bình, bình thứ và thứ,tương đương như hạng ABC ngày nay )nên ngoài việc có bằng,anh ấy còn được tuyển thẳng vào học trường công,tức là không còn lo học phí hàng tháng nữa. Hồi đó bọn học sinh tư thục có phong trào “học nhảy”,cũng do thời thế mà ra . Người ta muốn nhanh chóng có những tấm bằng để nếu đi lính hay ra làm công chức thì đỡ mất thời gian,vì tuổi đã “ quá đát”. Học để thi bằng trung học, thay vì miệt mài đèn sách bốn năm,người ta bỏ đi một năm,lớp Tám hoặc Chín. Rồi mong giật mảnh bằng tú tài một ( hết lớp Mười một ) thì bỏ hẳn việc ngồi mỏi mòn trên ghế lớp Mười . Nhiều người bạn của anh Đa nuýp xanh đã làm thế. Riêng anh này thì vẫn bình tĩnh : trước sau gì tao cũng sẽ vô Đại học ,vì anh bảo: tao được miễn dịch.Gia đình anh có một anh trai là tử sĩ, một anh là thương phế binh, họ chưa có vợ con gì cả,mà cha mẹ anh đều ở tuổi sáu mươi, lại mỗi anh là con trai ,nên anh cứ tà tà học hành,đặng còn cưới vợ,sinh con,có cháu mà nối dõi tông đường . Chính sách của Chính phủ vốn nhân đạo như thế,cũng là niềm hạnh phúc của anh này . Có ai biết đâu lý lịch này là .. đi mượn . Vì bố đẻ anh là một ông cán bộ Việt Minh thứ thiệt,đã hy sinh từ khi anh còn bé, các anh đều ở ngoài Bắc, có mấy chị làm y tá,làm thư ký đánh máy cho hiệu buôn lớn ở trong Chợ Lớn.Đó là lý do anh thường về thăm để nhân tiện xin “ chi viện”Nhưng việc “ đi Sài gòn thăm hai chị “ cũng là cái cớ,mà mãi về sau, hai nhỏ Bé Tre mới biết.
Đến ngày anh Đa nuýp xanh thi lấy bằng tú tài một. Có thêm tấm bằng này cũng bảnh lắm, dù chưa thể thi hay ghi danh vào một trường đại học nào đó,nhưng nếu đi lính thì lĩnh lương sĩ quan,từ chuẩn úy trở lên,đi làm thì có thể thi vào trường sư phạm tiểu học, ra làm công chức lương cũng cao. Ngày đó, ông anh rể ( chồng chị cả ) của Bà Bé cũng thi để giật mảnh bằng này. Anh từng học đến lớp Mười một thì bỏ dở ,phần vì đi lính,phần vì cưới vợ theo lệnh hai đấng sinh thành. Đi quân dịch, ông bố chạy cho cái chức “ lính kiểng”, lính làm việc văn phòng,không phải ra trận,ăn mãi lương binh nhì , gọi là đơ giem cà cuống ,( cao nhất là đại tướng ) mãi chẳng thấy mới lên chức binh nhất ,trong khi bạn cùng lứa,có cái bằng tú tài một, là một phát đi Thủ Đức,lương chuẩn úy, hạng sĩ quan,còn mình mãi là hạ sĩ quan . Đơn vị anh rể Bà Bé đóng ở ngay Đại đội hành chính, từ là khu vực cuối Chợ Mới Dalat,nằm ở góc đường Phan Bội Châu trong thành phố. Một ông thì ngày đêm học hành phờ phạc,ông kia cứ ung dung phóng xe gắn đi về, mà mục đích thì không khác nhau: phải có tấm bằng tú tài một, để rồi có tú tài hai.Ông thì muốn học lên cao, ông thì mơ đến món lương tăng . Đến buổi thi, ông anh Đa nuýp xanh đến hội đồng thi sớm lắm, và quay lại nhà ,kẻ mặt mũi đầy lo lắng, ông kia thì thong thả ung dung khi đi,lúc về hớn hở cứ như là “ đề trúng tủ “ vậy.Ngày ấy thí sinh thi tất tần tật mọi môn, học bao nhiêu thì thi bấy nhiêu,còn có môn thi ( hai bà Bé Tre quên cách gọi gọi rồi ) đó là thi Thể dục để được cộng thêm điểm ( ai muốn cộng thì thi,không bắt buộc.Thí sinh miệt vườn không có thời gian dùi mài kinh sử,nhưng khỏe mạnh,đều đăng ký ), thí dụ như mười ,chín thì cộng hai,mà bảy tám thì cộng một. Thí sinh sẽ chọn các môn như chạy, nhảy xa, nhảy cao,leo dây ( tức là đu lấy một sợi dây dài,treo từ trên xà, kẻ leo nhanh và cao thì điểm nhiều .) Bọn em nhỏ nhớ ông anh Đa núp xanh chọn môn này,vì anh ấy kể,nếu chạy nhảy thì thua bọn kia,họ ở tuổi mười bảy khi thi tú tài một,anh này hăm mấy rồi,do học lùi mà ! Anh thí sinh này kể : mỗi dây họ cột sẵn một cái gút to, thòng đu đưa từ tít trên cao, ngó đã thấy chóng mặt, mà tao phải “ bước “ bằng cách kẹp gút mà đu lên. Khi thi thì quên trời đất,về đến nhà mới thấy hai ngón chân cái sưng chù vù như bị ong đốt,phải nhón nhén mất đi bằng … gót chân mấy ngày trời ! Trước đó,từ khi còn cách ngày thi cả năm, sau sân nhà Tre có một cây thông già to,cành lá sà xuống mái tôn,anh đã tìm cách cột chắc một sợi dây thừng,bện từ rất nhiều sợi bao bố to và chắc,đường kính bằng cỡ bắp tay, dài cả chục thước, rồi đứng lên trên mái tôn, tập tành thường xuyên,cũng không ít lần té “đo” mái tôn nhiều chuyến ! Mái nhà Tre chỉ hơi dốc,kiểu nhà mái bằng,hay gọi theo buổi ấy,nhà kiểu Mỹ,lợp bằng tôn phi-bro xi măng nên dày và chắc,có té đo cũng không sao,mệt thì nằm dài đọc sách,học bài . Những ngày nàng Tre ôm bụng trống,cũng leo lên đây ngồi,cây thông bị đốn mấy cành theo năm tháng, nhưng vẫn tỏa bóng.Hồi nào anh Đa nuýp Xanh đặt bao hy vọng vào đứa em này, mà giờ mình thì … Tre thấy lòng ngổn ngang trăm mối .
Tre nhớ ngày treo bảng năm nào,sau mấy ngày ròng thi thố !.Chỉ có một anh đậu,mà đậu rất cao.Còn anh kia ! Anh rể kể : tao mặc cái áo field- jacket rộng thùng thình, ( thứ áo lính dài phủ mông,có thắt lưng ở eo, hai vạt áo có thể nhét vào đó cả một ..bầy gà ) và .. phao, tức là những trang sách bài tập giải sẵn, tháo rời từng trang ,đánh số, nhớ kỹ là mục nào hợp với đề thì rút ra,kê dưới đít,rồi cứ lật từng trang chép từ từ , chứ mình thân lính, đầu óc đâu mà học nữa ! Hai đứa em Bé,Tre lo lắng, chứ giám thị không “ bắt” à ? Thì cứ tưởng họ không thấy .Mà toàn các cô giáo trẻ măng,ai cũng lạ hoắc lạ huơ .Thì họ đi coi thi,mai mốt chấm thi, đều đi bằng máy bay từ tỉnh khác đến, chứ đâu phải người ở đây !Họ đứng xớ rớ đằng xa, vẻ mặt hiền từ .Ối trời,có ngờ đâu.Họ ngại va chạm lính tráng. Ngày ấy cả những viên cảnh sát áo trắng,có súng lục đeo hông,cưỡi những chiếc xe gắn máy phân khối lớn, hiệu Harley Davidson chuyên dụng,chỉ rồ ga một cái là nó phóng bay cả chục cây số, súng giơ lên một cái, là kẻ kia đưa tay ra hàng rồi, ai ai cũng nể, chỉ giới lính tráng là không. Họ chỉ dè chừng quân cảnh mà thôi ! Các cô giám thị ở xa đến, cố giữ vẻ tôn trọng “các anh”, nhưng mà tên các anh, số báo danh thế nào,họ đánh dấu cả rồi.Người ta tổ chức một kỳ thi tốn kém ,nghiêm túc như thế,bài bản như thế,mục đích để chọn những thí sinh dù ra đời sớm ( thi lấy bằng tú tài một ) hay học tiếp lên đại học chuyên ngành,( thi bằng tú tài hai ) có đầy đủ năng lực để hoàn thành công việc học được giao sau này,chứ đâu phải để lên lon,lên lương như các vị !
Giang và Bé , Tre
( còn nữa )

No comments:
Post a Comment