Saturday, July 25, 2026

ĐỂ NHỚ NHỮNG MÙA THI

 

   



Ba  bà lão chúng tôi, Giang,Bé, Thanh, từng có một thời là  các cô giáo  gõ  đầu bọn tuổi  mười một đến mười bốn,mười lăm. Có một  cửa ải đầu tiên  và gian nan( theo cách nhìn  của mọi  người   ngày ấy)  mà chúng tôi phải  vượt qua cho bằng được,đó là  kỳ thi tuyển vào trường  Cao  Đẳng  sư phạm,nơi chúng tôi  chọn ( mà vì ngày ấy   hệ thống trường này ở các tỉnh chưa  có ) tại  thành phố Hồ  Chí  Minh, đào tạo giáo viên  cấp  Hai  cho toàn các tỉnh miền Nam . Bà  Vân Thanh dù cùng tuổi  giấy tờ là   1957, nhưng do   từng tham gia lực lượng  Thanh niên  Xung phong  nên   vào  học sau chúng tôi một  hai khóa  gì đó,bà ấy   có kể mà tôi  không chịu lưu lại trong bộ  nhớ,  tự hào rằng mình thuộc diện “ cán bộ đi học” nên  kỳ thi  vào đây chỉ có hình thức “ hợp thức hóa”. Tôi thì, thôi cứ kể ra  vì dù sao  mọi chuyện đều là quá  khứ,  tôi  có người cha  từng là chiến sĩ  Điện Biên,là cán bộ  cấp cao của ngành nông  nghiệp, quen biết  nhiều,nên ông đã  tìm cách “ lo liệu”, và vì thế,kỳ thi cũng là một  kiểu…như bà Vân Thanh.Chỉ có bà Bé  là phải   gồng mình lên mà học bài,làm bài . May là  ngày  ấy     đất nước vừa thống nhất,trường cấp Hai mở ra khắp nơi, giáo viên thiếu  trầm  trọng, , nên hình như  ai  nộp đơn là  đỗ,thậm chí  Nhà nước còn tuyển tất tần tật những sinh viên từng học  đại học năm  thứ nhất,thứ hai   các trường tại  Saigon trước đây,ghi  danh vào  học,  và khi về  Huyện,tôi còn  biết có nhiều thầy cô từng là  giáo viên  tiểu học lâu năm cũng được  cử qua dạy trường  trung học  cơ sở, có  người còn  làm Hiệu trưởng,  Hiệu  phó  những  ngôi trường có hai cấp học này , đủ biết ngày ấy  ngành giáo dục cần  thầy cô giáo     cấp Hai đến chừng nào .

  Tôi  không  thể đeo đuổi  đến cùng  nghiệp bảng đen phấn trắng,  vì,có lẽ  Thượng  đế muốn thế,bà Vân Thanh cũng vậy,còn bà Bé   miệt mài lên  lớp,mà còn từ   buổi dạy bọn lau nhau lớp  Sáu,Bảy, sau nhiều năm, bà này nghiễm nhiên  là một cô  cấp Ba . Cũng phải qua một kỳ thi   tuyển gắt gao,  mà  Tre cùng đi thi thấm thía lắm,  thí sinh đầy mấy chục  gian  phòng mà cuối cùng  gom được ba  lớp,  trong đó có một số  thuộc đại học dự bị  chuyển qua,rồi  số  sinh viên từ  đại học Cần Thơ chuyển lên, riêng  lớp A của Bà Bé thì  một phần tư là lớp thuộc diện năm  xưa của bà Vân Thanh( hẳn nhiên họ cũng  phải  trải qua một kỳ thi  như mọi thí sinh  khác )Tre ấm ức :chị Bé đi thi, học bài có hai tháng hè,  mà  rồi còn  bị sốt rét hành hạ lên xuống,  mà chị  ta    tự tin lắm, rằng : tớ có rớt thì qua dự bị học thêm một năm,rồi trước   sau  gì tớ cũng về một  trường cấp ba nào đó ..  Vậy là bà này  còn bảnh  hơn bà Vân Thanh. Trường dự  bị  đại học  gọi là  Đại học Nguyễn Chí Thanh,( vì trường nằm ở    trên con đường mang tên vị tướng tài ba này )  ưu tiên cho ba  diện thứ  nhất  là     quí vị  con ông cháu cha mà học hành.. thiếu điểm . Họ có bố mẹ là  cán bộ cao cấp của Nhà nước,   diện thứ hai,  chính   là   cán bộ từng một thời  xông pha lên thác xuống ghềnh, đi thi với tâm lý  là “ sang dự bị học thêm một năm “ tất tần tật ngành nào cũng có .  Diện thứ ba là   dành cho những   thí sinh “gạo trên sàng “ :họ  thi đỗ hạng nhất mọi trường đại học,được tuyển đi học ở  Liên Xô và các nước Đông  Âu,về đây học một năm  ngoại  ngữ, tiếng nói của   đất nước họ sẽ đến học.Cho nên  hai  diện “ con ông cháu cha “  và  ‘ cán bộ “ có khi  còn tự hào: thì bọn tớ  cũng là diện dự bị để..du học.  Nhìn vào  mấy lớp  này là   biết thế nào, vì tôi có nhiều bạn bè, người thân ở đây lắm !

 Tôi nhớ khi  ngồi kể   lại  chuyện này,Bà Vân Thanh  ranh mãnh nhìn tôi :

- Sao  hồi thi vô đại học sư phạm ngoài Bắc, dạo vừa  hòa  bình, bà không nhờ  ông  bô ( cách  Thanh gọi  bố )  gửi  gắm, để phải khăn gói quả mướp vào tận Phương Nam này ?

 Thanh  vặn vẹo thế  bởi tôi từng khai :tôi   đã thi  vào đại học sư phạm, ngay năm 1975,mà  “đậu cành mềm”. Dạo ấy   hai miền Bắc Nam vừa thống nhất,bố tôi  được điều ngay vào Nam  công tác, như  rất nhiều cán bộ   miền Bắc ngày ấy.  Tôi thấy ông  bận rộn hơn  cả các  bác nông dân, vì  ông   bươn bả  hết mọi cánh đồng miền Tây,rồi lại xộc qua miền  Đông, cho nên dù  dẫn tôi theo ( vì tôi  vòi vĩnh,dù tôi đang trong   thời gian  ôn thi vào tháng  8.1975 ) ông cũng không có thời gian  ngó ngàng đến, chỉ dẫn tôi vào một khu cư xá  vắng tanh,vì người dân đi di tản cả,   dúi cho tôi  một ít tiền,gửi  gắm tôi cho chú  phóng viên nhà  báo  ở  gian kế bên, rồi  thế là  lao ra   chiếc xe Jeep bộ đội đang đón sẵn. May là ông còn có thời gian    để  nhớ  rằng mình còn có đứa con gái  đang ở  không xa chỗ mình công tác,nó  đang   chuẩn  bị thi  đại học,  thế nên  khi gần đến ngày thi,ông   nhờ  người  mua vé tàu cho tôi ra Hà Nội một mình.

 Tôi thở  dài  :

- Tại bố tớ   quá tin tưởng ở tớ..

 Rồi tôi cũng thật thà khai báo :

-Hồi vô Cao Đẳng ở Thành phố Hồ Chí Minh,nếu tớ muốn  bay qua bên Đại học  cũng được,nhưng  lúc này tớ khôn hồn  rồi ,biết mình  ra sao  để sau này   đi   đụng độ học trò còn biết đường liệu cơm gắp mắm.

 Tôi trọ học ở nhà chú Toàn,em  ruột bố tôi,một năm  để hoàn thành chương trình đào tạo cấp tốc của  trường Cao Đẳng  sư  phạm thành phố.  Chú  thím  Toàn có hai  người con trai  lớn  là một cặp song sinh cùng tuổi  với tôi,chọn khoa Hóa  trường  Đại học Sư Phạm. Họ cậy nhờ bố tôi  ,nói  theo cụm từ thuở ấy ,là “gửi gắm”. Từ dạo  về sống chung nhà với  bố,  mẹ Thu,người vợ sau của bố tôi,  và hai  cậu em trai con chung của họ, em cùng cha với tôi tại  Hà  Nội , tôi thấy bố tôi có  nhiều người  bạn  là  thầy  cô giáo bên  Bộ Giáo Dục,rồi là trường   Đại Học  Sư Phạm  tạt qua nhà chơi, ăn uống,  trà  đàm.   Hai   người  em sau  này, nhờ qua mối quan hệ của  bố mẹ   mà   nhẹ nhàng  vào học  những  ngôi trường đại học  họ chọn,tôi  biết  rõ vì khi tôi  rời  vùng  quê   ở  Đồng Nai  xa  xăm,quay ra Hà Nội,họ kín hở cho tôi  biết việc họ   học và thi  ra sao, rồi  trách tôi  sao  không năn nỉ bố mẹ .. Họ thì thầm,   đi   Liên Xô   cũng … Tôi  nhớ có  nhiều đêm, nhà chú thím Toàn tiếp những  người  khách   mà tôi từng   bê nước ,dọn cơm mời ở nhà bố mẹ mình, rồi  những món quà rất có giá trị  thím  sai tôi đóng  gói cẩn thận để “ kỉnh các thầy  Hà Nội”.Từ “ kỉnh “ cũng là từ lần đầu tiên tôi  nghe . Những ngày  miền  Nam vừa được giải phóng,tôi theo bố vào,khi  trọ bên khu  cư xá    cũ đối diện với  nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi,khi   qua nhà chú thím,thường xuyên tôi  nghe tiếng thím rầy la hai anh con trai lớn, ( chú  đi học cải tạo ngoài miền Trung ), có lẽ việc học  tập của họ ở trường,trước đây họ học  trường Pháp,nay chuyển qua hệ trường Việt,họ lại  cùng  có hai cô  bồ, tức là   người yêu,theo cách  gọi của vùng này,nên có phần chểnh mảng.  Tôi hiểu thím lo lắng cho tương lai của họ.  Thím rất bận, dù con  nhỏ mới sinh cách đó một năm,nhưng thím vẫn nhiệt tình tham gia công tác Hội Phụ nữ  Phường,mục đích là  để có thể   xin  ân giảm cho chú. Hai  anh con trai cũng khổ tâm lắm.Họ bảo : Má la một câu mà nó nằm miết trong đầu cả tháng trời  luôn ! Ngồi  học mà  óc  cứ nóng bừng lên.  Thế rồi sáng sáng ba anh em cùng trực chỉ về hướng đường An  Dương Vương,tôi tạt qua bên trường Cao Đẳng, còn họ thì ung dung   rẽ vào trường ĐạiHọc Sư Phạm. Sau này khi họ qua Mỹ,có  dịp gặp lại,tôi biết họ  vẫn đeo  đuổi  ngành chuyên môn họ từng  chọn học là  Hóa,  mặc dù không thuộc về  giảng dạy.Kể  ra họ cũng có  năng khiếu và đam mê, nhưng chú thím vẫn “ chạy chọt”vì có như thế mới yên tâm.

 Tôi  kể thêm một chút về cuộc thi  làm cô giáo của   hai nàng Bé Tre  vào một mùa hè năm  1981. Tre từ lâu chẳng  nuôi ước mơ làm cô giáo, bởi từ  bao giờ  nó  đã  biết  với  ngoại hình hơi khác  người,liệt cánh tay bên phải,thì  cũng như tôi,liệu cơm mà gắp mắm,rồi lại có  nhiều người  khuyến khích, nó  chọn ngành làm thầy kiện,ngành Luật. Nhưng đùng một cái  nàng ta  ôm bụng trống to  chang bang.  Biết tin chị Bé dưới  Đồng Nai được  nhà nước  cử đi học tiếp về dạy  khối cao hơn,  hai má Mười -Tư  dỗ dành Tre “xuống  La Ngà  ôn  bài   với chị, rồi  cùng đi thi ,trời thương  cho  đậu thì đi học xa nhà có chị có em”. Hai má  vốn là  “ người lớn” nên  nhìn thấy đường xa, rằng  ra làm cô giáo thì  buổi  lên  trường,buổi ở nhà  trông con, hè được nghỉ mấy tháng,chứ mà làm   thầy kiện,   đã  làm việc ban ngày,có khi  còn phải làm đêm .  Nàng Tre  xưa nay vốn  bướng  nhưng bây giờ nghe cũng thuận tai,bèn làm theo răm rắp.Nhưng khi  gặp  bà chị,bà này  khoe khoang  thì  Tre thấy cụt hứng.Bả thi mà không mong đậu,vì có mấy tháng ôn,tư liệu thì học trò cũ mang đến cho   bộ  ba cuốn Văn, Sử,Địa,bắt  đầu  học từ trang số   1,  mà Tre đã  nhào  nuốt  đến nhão từ  khi nộp hồ sơ, rồi lại suốt  ngày hết sốt lại rét,nên thản nhiên : tớ làm sao  đua với  tụi phổ thông lên như bọn mày,  có rớt cũng qua dự bị ,thôi cố thêm một năm,dù sao về phố lớn có điện,có nước máy, muốn đi coi xi nê,coi ca nhạc  cũng tiện,lại đỡ phải ăn cơm độn,đau ốm thuốc thang dễ kiếm hơn ..  Và bà ta đắc thắng . Hồi  nhỏ, vô được  trường  công,  bọn tớ học một  lèo đến  lớp  Mười Hai.  Ngỡ thi  IBM  nên học ngày học đêm, nào  ngờ  “ sơn hà thay đổi “ tớ thi tốt  nghiệp cứ  như  đi kiểm tra học   kỳ. Thi vào Cao  Đẳng cũng  nhẹ nhàng . Giờ thi đại học chuyến này thì. .. Mong  sao vô đại học, tớ  sẽ  cố, để ra trường tớ  được chọn   chốn  hồi  hương .   Thế là  Tre bỗng thấy mình  ..nghĩ  lùi.Ừ,mình đang nghén,suốt  ngày ôm  sách mà bụng cứ ọc ạch như kẻ bị   đau dạ dày,  mà rồi đậu thì  qua học kỳ hai là  sẽ đi nằm ổ. Đã thế,  vừa học vừa  trông con,ai   bế nó cho mình   thanh thản nơi giảng đường . Thôi chi bằng ..  sang năm thi lại.Giờ về   nhà quay đi  quay  lại là đến ngày   em bé nó đòi ra, mình cứ ở nhà, gạo  mắm có hai má lo. Ở  nhà một năm,ôn  luyện kỹ, rồi khi chị Bé từ dự bị qua,mình cũng đường hoàng vào   ngôi trường đúng nghĩa “ Đại học Sư  phạm” .  Tre  tính toán như thế , bởi vì là …Từ mấy năm nay, khi Tre lên học cấp ba, hai cô Mười Tư không còn là các chị   tạp vụ ở các cơ quan hành  chính,mà  chuyển  sang làm  cấp dưỡng cho các bếp ăn tập thể . Họ vẫn có hai  người hai  chiếc xe đạp,mọi khi  ra  ngõ  thì ai đi đường nấy,nhưng bây giờ  được gom về một  nơi,không xa nhà bao nhiêu.  Sáng  rời nhà  rất  sớm ,  tối   về muộn,  nhưng  trên yên   sau của xe mỗi má đều ràng nịt  theo một chiếc thùng  nhựa hai mươi lít,đậy điệm cẩn thận,mọi khi thứ thùng này ở vườn nhà chị Bé, các chú làm công chiết thuốc  Diazinon,thuốc bột DDT   rồi trộn vào  các bình phun, để diệt sâu bọ các thứ đến  cắn phá rau hoa  mùa màng,bây giờ thì  đầy   lủm “nước cơm “thứ nước chắt ra sau khi vo  gạo, rửa  bát, dùng để  đun với cám cho heo ăn rất  tốt, thay vì phải mua thêm cám, bánh dầu  như mọi khi hai má chăm  mấy chú heo sau nhà,   và mỗi tháng thì tiêu chuẩn tem phiếu, mua gạo  thit  mắm muối..các thứ  thì  “ vẫn nguyên vẹn”,  bởi  “ xé mắm thì mút tay “ đó là  qui luật.

 Nhưng rồi có một yếu tố nào đó khiến hai nàng này bỗng  thấy cần phải “vùng lên” nghĩ tiến chứ không  tính lùi nữa . Ta hãy chờ .

Bởi   Hai bà  Bé  và  Tre còn   than thở  nỗi khổ  thi cử từ tuổi lên mười , đúng  ra là mười một.Học hết lớp  Năm ,muốn lên lớp  Sáu, để    có thể  tìm một chỗ ngồi trong  ngôi trường công lập tỉnh, họ  phải trải qua  một kỳ thi  “ gian khổ   nhất trong đời” . Bà Bé  hồi tưởng :

-  Trường tớ có hai  lớp,ngót  nghét chín chục đứa,mà  thi đậu  vô  hai  trường công ( trường nam  và nữ học riêng ) thì  tổng cộng chỉ đúng ..mười đứa !

Tre đồng tình. Dù ở cùng thôn,nhưng nhà Tre ở  trên đồi,từ đó băng qua  ngôi trường mang danh “ phố “ tiện hơn qua trường làng, vì  từ cổng nhà có con đường làng  rải đá, đi  một quãng là bon bon đường nhựa,mà  đường làng hết mùa sình kéo dài  cả  tám tháng,ba tháng nắng lại bụi,  đường còn có mấy con suối, cầu gỗ chênh vênh,  trẻ con  có mấy đứa bị ngã,  và   không  cứu được,  nên  anh Đa nuýp xanh hồi ấy có  “ quen biết”,vả lại do  tình trạng sức lực ( Tre bị liệt tay phải ) nên  hai má Mười - Tư cũng  đồng  ý cho Tre xin học ở  đây,trường Võ Tánh, nay là  Nguyễn Trãi , ước  nguyện ban đầu của hai má là “ ở đó  học dễ thi vô trường công hơn”. Bà Bé  kể,ngày   con bé con  biết sẽ đi thi ở cơ sở này, thay vì  kéo ra trường nữ  như các chị trong xóm, có   lẽ  vì thí sinh quá đông  nên họ  mở thêm  mấy  phòng ở   đây, nàng ta lo lắm ,vì thấy lạ nước lạ cái . Nhiều   năm rồi  cứ  nghe “ trường phố “ thì  nghĩ là có lầu cao, phòng ốc  rộng  rinh ,   học trò  mỗi đứa một bàn một ghế,   một hộc tủ, cứ  mỗi một môn  học lại kéo nhau qua một gian nhà khác .. như  mấy lần coi trong  xi nê người ta chiếu cảnh học trò tận bên Tây .   Buổi chiều trước ngày thi,bà này đứng ngẩn ngơ ở  hiên  nhà   nhìn qua ngọn đồi của  ngôi trường phố ấy,có chút lo lắng .May  sao  anh Đa nuýp  xanh   đọc được  nỗi   phiền toái trong đầu nhỏ kia. Mấy chú cháu kéo nhau đi  ..coi,  ( dù là  lén   băng rào  đi lẻn phía sau )  nhưng cô  nàng thấy tự tin ngay. Ồ thì  cũng như  lớp  học  trường làng của mình.   Bốn năm dãy bàn dài mỗi bên,một lối đi ở  giữa,bảng quay  có hai mặt ,có thể  chui ra sau  khi    cô giáo sai lên viết giờ chính tả ( để tụi nó ngồi  dưới lớp  không  cóp bi ) ,   đến  khi cô giáo chấm điểm thì quay lại, cả  lớp theo lời cô giáo sửa mà   chấm chéo cho nhau;  bàn cũng có  năm lỗ,đựng lọ mực chế  sẵn cho năm đứa,có điều  người ta cất cái  cô đê ( tức là cái lọ  sứ đựng mực ) đi  rồi,chỉ còn mấy cái lỗ trống hoác,anh Đa  nuýp xanh  bảo : để  đề  phòng  người ta  nhét bài làm sẵn  vô đó ! Chà,thi cử có hàng trăm  người canh mà  cũng tính chuyện cóp bi nữa,gan thiệt ! Bàn giáo viên cũng cũ  kỹ, có  khi còn   sờn   tróc hơn bàn thầy cô trường mình nữa chứ,  tủ kính nho  nhỏ  cũng cỡ dạng tủ lớp bên trường mình,là nơi    cô thầy cất  sổ sách,cả vở học trò  thu về chấm mà chưa kịp trả .Chỉ khác là  trần nhà có gắn cái ống   trắng dài dài,bóng đèn điện , anh  Đa nuýp  Xanh giải thích . Ồ,có  gì khác trường làng đâu. Con bé có chút tự tin . Hồi ấy biến cố Mậu Thân vừa  xảy ra, nên ngày thi bị  dời, cả việc học của anh “dẫn đường”kia cũng có chút  ít   xáo  trộn. Anh dặn :

-Nay ổn rồi,giờ mình biết chỗ thi ra sao, thấy yên tâm hơn phải không ? Mày  đã học  kỹ như cháo mọi thứ,làm tính  đố  với  tập làm văn mày cũng ngon rồi,thì cứ  yên tâm về nhà,tối đi  ngủ sớm,sáng dậy ăn  no rồi ra đây thi,có gì đâu.

Ngày Tre đi thi,bà chị Bé cũng tìm cách dẫn cô em  ra trường nữ (  nay họ không mượn thêm trường như hồi  nào )  để ..coi chỗ thi cho biết .Nhưng ông cai không cho  vô.Bà chị cũng động viên cô em  y chang như thế .Hẳn nhiên  mô tả sơ  ngôi trường mà đứng ngoài,họ chỉ thấy ngói  đỏ và  vô số  ô kính lấp loáng,nhấp  nhô,  dễ thương nhất là   vòm cổng   có hình một chiếc   ruy băng màu xanh  da trời kết nơ  rất dỏm dáng.

- Có lầu,cầu thang đi lên mỗi đầu hồi nhà, hồi tớ học đệ thất và  lục thì  dưới,  sang đệ ngũ mới  lên lầu,dãy bên tay phải từ cổng  vô nè, phía sau  hàng rào là đường dẫn  vô khu nhà dân.

 Qua đệ tứ ( lớp chín) chuyển học buổi sáng, tụi tớ qua  dãy bên trái, cũng học lầu.Bên này phía sau có vườn cây cổ thụ, mùa  tết  mai anh đào nở rộ, đẹp lắm .

- Chị thích học ở  trệt hay lầu ?

- Ở   đâu cũng thích .Học bên dưới  xếp hàng  ra vô lớp,  khi tan trường cũng nhanh hơn,nhưng học trên lầu ngồi ngắm  hoa mai nở, hay   nghe chim hót trên những rặng  thông,cũng  thích  .

 Bỗng Tre   lên tiếng đầy bất  ngờ :

- Bạn em hồi học chung với em dưới  Saigon  từ hồi mẫu giáo, vừa lên   nghỉ mát, nó chê trường  nữ mà cây cối ít  quá,  vì  nó sẽ thi vào một trường nữ dưới vùng Lục Tỉnh,  nó khoe   trường nó  sẽ thi vào có  cây cố cổ thụ xanh rì,đứng ngoài  chẳng thấy mái trường đâu cả .

 Kiểu nói chuyện này khiến bà chị cụt hứng.Nhưng :

- À thì.. Rồi cô chị reo lên :  khi  Tre vô đây, sẽ   ra  sân bóng chuyền ,ở đó có cả rừng thông,  ngó qua viện Giáo Hoàng của các  ông frere ,có  hàng rào là  hai hàng thông  cao  và dày . Ngó qua Đồi Cù thì khỏi chê,bạt ngàn đồi thông  xanh.

 Cũng như bà chị, Tre có bảy năm học  tập, trưởng thành ở đây. Khi  ra làm cô  giáo đứng lớp,  rồi làm cán  bộ quản lý, khâu    giảng bài thì mỗi tuần chỉ  dăm ba tiết,nhưng việc “ dỗ “học trò ( vì nghề giáo là nghề vừa dạy, vừa dỗ bọn trẻ )ngốn hết thời gian,Tre mới giật mình nhận ra, tất cả  những lời nói , cử chỉ, thái độ, cảm  xúc  dồn cho công việc  và  đám học trò,đều là bản sao của mười hai năm đèn sách,từ ngôi trường  “ phố  nhưng vẫn  đầy chất làng “ và   nơi chỉ rặt học trò con gái. Tre  không được sinh ra từ đây,trong những con người gắn bó có phân nửa giòng máu đỏ da  vàng, nhưng mà trong   cô  gái trẻ này  vẫn da diết một tình yêu  thân thương,bởi “ ngôi trường là một góc quê hương”.  Tình yêu ấy cô   chia sớt cho một góc miền   phương Nam xa xôi,sông nước   kinh rạch chằng chịt, những cánh đồng bát ngát  chạy đến tận chân trời .Đây là  quê hương của  mọi  người trong đại gia đình  Tre,hai bà má,một đứa con gái,ba đứa cháu,và những đứa chắt..

 Những ngày ấy, anh Đa nuýp xanh cũng là học trò,vì ôm mộng   làm  sinh  viên của  khoa Quản trị kinh  doanh  trên đại  học để mai kia làm  nghề đếm bạc ở nhà băng,nên anh này cũng cố  dùi mài kinh sử, tất  nhiên cũng  nhọc nhằn biết bao trước những kỳ thi.

- Ngoài  quê, tao cũng thi vô đệ thất trường công như tụi bây chứ bộ . Giờ tao lo thi  để lấy cái bằng  trung học đệ nhất cấp, để  lỡ   nếu tổng  động  viên bị kêu đi quân dịch, tao được hưởng lương trung sĩ !

 Ông anh này  già  đanh rồi ,bởi vì    ngoài quê chiến tranh bom đạn ùng oàng,đậu đệ thất,mà rồi phải bỏ dở dang  chuyện học  mấy  năm,  giấy tờ cháy  rụi ,vô đây  học lại  lớp  đệ thất ( lớp Sáu ) mà tuổi lẽ ra  đi thi.. lớp  đệ tứ ( lớp Chín ). lấy  bằng trung học đệ nhất cấp . Phải nói là ổng thông minh,vì  đâu   được   ngồi yên trong nhà mà học như hai con bé kia,mà  còn ra vườn,rồi ổng còn nhiều  việc khác nữa, tức là “ người lớn họ sai,thì mình phải làm  chứ”. Thi   lấy bằng trung học   anh Đa nuýp xanh đỗ hạng bình( có  ba  dạng :bình, bình thứ  và thứ,tương đương như  hạng ABC ngày nay )nên ngoài việc có bằng,anh ấy còn được tuyển thẳng vào học trường công,tức là không còn lo học phí hàng tháng nữa. Hồi đó bọn học sinh  tư thục  có phong trào “học nhảy”,cũng do thời thế mà ra . Người ta muốn nhanh chóng có những tấm bằng để   nếu đi lính hay  ra làm  công chức thì  đỡ mất thời gian,vì tuổi đã “ quá đát”. Học  để thi bằng trung học, thay vì  miệt mài  đèn sách  bốn năm,người ta bỏ đi một năm,lớp Tám hoặc  Chín. Rồi  mong giật mảnh bằng tú tài một ( hết lớp Mười một ) thì  bỏ hẳn  việc  ngồi mỏi mòn trên ghế lớp Mười . Nhiều  người bạn của anh Đa nuýp xanh  đã làm thế. Riêng anh này thì vẫn bình tĩnh : trước sau  gì  tao cũng  sẽ vô Đại học ,vì anh bảo: tao được miễn dịch.Gia đình anh có  một anh trai là tử  sĩ, một anh là thương phế binh, họ chưa có vợ con gì cả,mà cha mẹ anh đều  ở tuổi  sáu mươi, lại   mỗi  anh  là  con  trai  ,nên anh cứ tà tà học hành,đặng còn cưới vợ,sinh con,có  cháu mà nối dõi tông đường . Chính sách của Chính phủ  vốn nhân đạo như thế,cũng là  niềm hạnh phúc của anh này . Có ai biết đâu  lý lịch này là .. đi mượn . Vì  bố đẻ anh là một ông cán bộ Việt Minh thứ thiệt,đã  hy sinh từ khi  anh còn bé, các anh đều  ở  ngoài Bắc, có mấy chị làm y  tá,làm thư ký đánh máy cho  hiệu  buôn lớn ở trong Chợ Lớn.Đó là lý do anh thường về thăm để nhân tiện xin “ chi viện”Nhưng  việc  “ đi Sài gòn thăm hai chị “ cũng là cái cớ,mà mãi về sau, hai nhỏ Bé Tre mới biết.

Đến ngày anh Đa  nuýp   xanh thi  lấy bằng  tú tài một. Có  thêm  tấm bằng này cũng bảnh lắm, dù chưa thể thi hay ghi  danh vào một trường đại học nào đó,nhưng nếu đi lính thì lĩnh lương sĩ quan,từ chuẩn úy trở lên,đi làm thì có thể  thi vào  trường sư phạm tiểu học, ra làm công chức lương  cũng cao. Ngày đó, ông anh rể  ( chồng chị cả ) của Bà Bé cũng  thi  để giật mảnh bằng này. Anh  từng học đến lớp Mười một thì bỏ dở ,phần vì đi lính,phần vì cưới vợ theo lệnh hai đấng sinh thành.      Đi quân dịch,  ông bố chạy cho  cái chức “ lính kiểng”, lính làm việc văn phòng,không phải ra  trận,ăn mãi lương  binh nhì , gọi  là    đơ giem  cà cuống ,( cao nhất là đại  tướng )  mãi chẳng thấy  mới lên chức binh nhất ,trong khi bạn cùng lứa,có cái bằng tú tài một, là một phát  đi Thủ Đức,lương  chuẩn úy, hạng sĩ quan,còn mình mãi là hạ sĩ quan . Đơn vị  anh rể Bà  Bé   đóng ở ngay Đại đội hành chính,  từ là khu vực cuối Chợ Mới  Dalat,nằm ở góc đường Phan Bội Châu trong thành phố. Một ông thì  ngày đêm học  hành phờ phạc,ông kia cứ ung dung  phóng xe  gắn  đi về,  mà mục đích thì không khác nhau:  phải có tấm bằng tú tài một, để rồi  có tú tài hai.Ông thì muốn  học lên  cao, ông thì mơ đến món lương tăng .  Đến buổi thi,  ông  anh Đa nuýp  xanh   đến  hội đồng thi sớm  lắm,  và quay  lại  nhà ,kẻ mặt mũi đầy lo  lắng, ông  kia thì   thong thả  ung  dung  khi  đi,lúc về  hớn hở cứ như là “ đề trúng tủ “ vậy.Ngày ấy thí sinh thi tất tần tật mọi môn, học   bao   nhiêu  thì  thi  bấy  nhiêu,còn có môn thi ( hai  bà  Bé Tre quên cách gọi  gọi rồi ) đó là thi Thể dục   để được cộng thêm điểm  ( ai muốn cộng thì thi,không bắt  buộc.Thí sinh miệt vườn  không có thời gian   dùi mài kinh sử,nhưng khỏe mạnh,đều  đăng ký ),   thí  dụ  như  mười ,chín  thì  cộng hai,mà  bảy   tám  thì  cộng một. Thí sinh  sẽ chọn các môn như  chạy, nhảy  xa, nhảy cao,leo  dây ( tức là  đu lấy một sợi dây  dài,treo từ trên xà,    kẻ leo nhanh  và cao thì điểm nhiều .) Bọn em   nhỏ   nhớ ông anh Đa  núp xanh chọn môn này,vì   anh ấy kể,nếu chạy  nhảy thì thua bọn kia,họ  ở tuổi mười bảy  khi thi tú tài một,anh  này hăm mấy rồi,do học lùi mà ! Anh  thí sinh này kể :  mỗi  dây họ cột  sẵn một cái  gút to, thòng  đu  đưa từ  tít  trên cao,  ngó  đã  thấy  chóng  mặt, mà  tao phải   “ bước “ bằng cách  kẹp gút mà đu lên. Khi thi thì quên trời đất,về đến nhà mới thấy  hai ngón chân cái sưng chù vù  như bị ong đốt,phải  nhón nhén  mất  đi   bằng   … gót  chân mấy ngày trời !   Trước đó,từ  khi còn  cách  ngày thi  cả năm, sau sân nhà  Tre có một cây thông già to,cành lá sà xuống mái tôn,anh đã  tìm cách cột chắc một sợi dây thừng,bện từ rất nhiều sợi bao bố to và chắc,đường  kính bằng cỡ bắp tay, dài  cả chục thước,  rồi  đứng lên trên mái tôn,   tập tành thường  xuyên,cũng không  ít lần  té “đo” mái tôn nhiều chuyến ! Mái nhà Tre  chỉ hơi dốc,kiểu nhà mái bằng,hay  gọi theo buổi ấy,nhà kiểu Mỹ,lợp  bằng tôn  phi-bro xi măng nên dày và chắc,có  té đo cũng không sao,mệt thì nằm dài đọc sách,học bài . Những ngày nàng Tre ôm bụng trống,cũng leo lên đây  ngồi,cây thông bị đốn mấy cành theo năm tháng, nhưng vẫn tỏa bóng.Hồi nào anh  Đa  nuýp Xanh  đặt bao hy vọng vào đứa em  này, mà giờ mình thì … Tre thấy lòng ngổn ngang trăm  mối .

  Tre  nhớ    ngày treo bảng năm nào,sau  mấy ngày ròng thi thố  !.Chỉ có một  anh  đậu,mà đậu  rất cao.Còn anh kia  !  Anh  rể  kể :  tao mặc cái áo  field- jacket   rộng thùng thình,  ( thứ áo lính   dài phủ mông,có thắt lưng ở eo, hai vạt áo có thể  nhét vào đó cả một ..bầy gà ) và .. phao, tức là  những trang sách  bài tập giải sẵn,   tháo rời từng trang ,đánh số, nhớ   kỹ  là  mục nào hợp với đề thì  rút ra,kê dưới  đít,rồi cứ lật  từng  trang  chép từ từ , chứ  mình  thân lính, đầu óc đâu mà  học nữa ! Hai  đứa em Bé,Tre  lo lắng,  chứ giám thị  không “ bắt” à ? Thì cứ tưởng họ không thấy .Mà toàn các cô giáo trẻ măng,ai   cũng lạ hoắc lạ  huơ .Thì  họ đi coi thi,mai  mốt chấm thi, đều đi bằng máy bay từ tỉnh khác đến,  chứ đâu phải   người ở đây  !Họ đứng xớ  rớ đằng xa,  vẻ mặt hiền từ .Ối trời,có  ngờ đâu.Họ ngại va chạm lính tráng. Ngày ấy cả  những viên cảnh sát áo trắng,có súng lục đeo hông,cưỡi  những chiếc xe gắn máy phân  khối lớn,    hiệu   Harley   Davidson  chuyên dụng,chỉ  rồ  ga  một cái là   nó  phóng bay cả chục cây số,  súng  giơ lên một cái, là  kẻ  kia đưa tay  ra hàng rồi,   ai ai cũng nể, chỉ   giới  lính tráng là  không. Họ chỉ  dè chừng quân cảnh mà thôi ! Các  cô  giám thị ở xa đến,  cố  giữ vẻ    tôn trọng “các anh”, nhưng mà  tên các anh, số  báo danh thế nào,họ  đánh dấu cả rồi.Người ta tổ chức một kỳ thi tốn kém ,nghiêm túc như thế,bài bản như thế,mục đích để   chọn những thí sinh dù  ra đời sớm (  thi lấy bằng tú tài một ) hay   học tiếp lên đại học chuyên ngành,( thi  bằng tú tài hai ) có đầy đủ năng lực để  hoàn thành công việc học  được giao sau  này,chứ đâu phải để lên lon,lên lương như các  vị !

                             Giang  và Bé , Tre

                          ( còn nữa ) 


No comments:

Post a Comment