Thursday, April 30, 2026

NGÀY HOÀ BÌNH

  Kính dâng hương hồn chú  Võ Hoa và các liệt sĩ ở Côn Đảo.

 Viết  để cám ơn Thầy NVL.

Đối với   những  người dân  Dalat  buổi ấy,ngày  Ba tháng Tư năm 1975  là  ngày hoà  bình .

 Dalat  những năm trước  bảy lăm  là thành phố  đầy lính tráng,mỗi chủ nhật  bóng dáng  những chàng sinh viên sĩ quan  của hai trường  quân sự và chiến tranh chính trị  lớn nhất miền Nam   lại xuất hiện khắp đường phố.Họ bảnh bao trong những  bộ lễ phục trang trọng màu cà phê sữa ,mũ kê pi, áo   may  kiểu veston,cầu vai tua đỏ  và đen, cứ nhìn  để phân biệt  đâu là các  vị “   tránh vợ bé quyết  giữ vợ nhà” ( Trường Võ bị  quốc gia  Việt Nam) và “ cho tôi chút tình “ ( chiến tranh chính trị),nhưng từ sáng  23 tháng Tư năm ấy, hai má  dẫn tôi đi sắm  một bộ đồ đẹp,trước đó  bọc lên khu phố có nhiều tiệm vàng,- đường Thành Thái,con đường  dịp  ngày đầu năm tôi mới đến, vì tôi lỡ quên chiếc nón mới  tại bảo sanh viện Phan Lạc Giảng,mé  Hàm Nghi, nay là  đường  Nguyễn Văn Trỗi, mà cả hai đứa, tôi và chị Bé  chạy như ma đuổi, chạy từ rạp  xi nê  Ngọc Lan cuối đường  cho đến    giáp đầu Hàm  Nghi, giờ  già lão, bước bộ qua thấy sao mà  xa, hồi đó chân cẳng con nít chạy thiệt là  khoẻ- sắm một chỉ vàng,  kết quả của nhiều tháng ngày làm lụng  vất vả của hai má.Khi trở về,đi lên con dốc   trước rạp  Hoà  Bình, nhìn xuống khu nhà kính mé cổng chợ, nay là  đầu đường Lê Đại Hành, từ sau  khách sạn Mộng Đẹp,   có dạo tên là  Mô- đéc,  nhưng chính phủ thấy  có chút hướng ngoại nên bắt đổi lại-  Chú Đa ( tên chú Võ Hoa ngày ấy ) có  một cảnh  chụp trước  nhà hàng Queen Bee ở  Saigon,  rồi lại một cảnh cũng đứng y chang chỗ cũ, mà bảng đã đổi ra là  Quên Đi. Tôi  nhìn hai ảnh, thắc mắc, thì chú bảo :  đổi cho ra cái kêu của  người Việt mình mà - nhìn qua bên kia đường,  mọi khi  giờ xế chiều luôn có mấy chiếc  GMC  bít bùng đón những chàng sinh viên  tập trung về lại quân trường sau một  ngày bát phố,thì  bốn bề chỉ có   khoảng không  tĩnh lặng, xa  xa là làn nước  Hồ Xuân Hương lăn tăn gợn sóng  . Chỉ có những đám cỏ vàng cắt sát gốc lơ phơ trong  gió làn gió lành lạnh  của chiều phố núi.  Má Mười  buột mồm:

- Ủa, bữa nay có phải chủ nhật không, mà thấy chỗ đó trống trơn .

 Má Tư  cũng lặng lẽ nhìn,  thái độ của má cũng có vẻ đồng tình. Sau đó ba má con  tìm  đến bến xe Lam  ở  đầu đường Hàm Nghi, là những hành khách cuối của chuyến xe chiều .

 Không ngờ đó là  những hình ảnh báo hiệu một thành phố yên tĩnh chờ  giông bão. Bởi từ sau đó,  lớp lớp cư dân phố thị êm đềm này, có  rất nhiều đứa là bạn học của tôi,  bố mẹ chúng là chủ nhân những  hiệu buôn , sạp hàng,hoặc công chức,nhân viên các   trường quân sự, ùn ùn  thuê xe chạy  đi “ lánh nạn”, rồi cao điểm, ngày  cuối tháng ba, đầu tháng  tư năm ấy,  hai trường  đào tạo sĩ quan  lớn cũng rút quân  về Saigon. Họ  đi theo đường  quốc lộ   27  thay vì  quốc lộ  20,náo loạn  cư dân  vùng Trại Mát, Cầu Đất ngày ấy, để ra Phan Rang,Phan Thiết,rồi mới  vòng  đến Long Thành , gần Saigon.

 Và ngày  Ba tháng Tư,bóng dáng  những chiếc áo xanh màu cỏ,chiếc mũ cối,chiếc  súng AK đeo vai, đôi dép  râu.. xuất hiện.

  Ngôi nhà tôi trọ  ngày ấy  nằm    đối diện chênh chếch với  trụ sở ấp,  trên hai vạt đồi  , ở giữa là con đường làng  rải đá mấp mô, nay có tên  hẳn hoi, đường Trần Khánh Dư. Cả hai vạt đồi lớn,mà chỉ có  hai ngôi nhà. Trụ sở,gọi là thế, nhưng nhìn thoáng thì cũng không lớn hơn  ngôi nhà mấy má con chúng tôi được Chú   Hoa mai mối cho ở,  kiểu nhà mái bằng,mà ngày ấy  gọi là “nhà kiểu Mỹ ”, ngôi nhà  chỉ bằng  một  lớp  học,  hiên   chỉ là một  ô vuông,  xây cao lên  ngay cửa lớn,có  chống chữ   V  giữ tấm  mái xe nắng, bởi vì  người nông dân ngày ấy  chê vùng đồi xa  nguồn nước, đất khô cằn, không canh tác thứ  gì,có  những vạt cỏ lớn,  đến độ  một ông cụ mãi bên ấp kế bên, khu Đa Thiện, cứ hàng ngày xua cả đàn dê hàng trăm con  đến   chăn dắt,   tôi thường ra đây nhặt phân dê  về   ủ với phân  heo nhà mình ,lấy phân trồng  rau hoa quanh nhà,  và ông cụ đó chết danh với tên “ Ông già Dê”,tức là ông cụ chăn dê,chứ ông  đã ngoài  sáu mươi, goá vợ, có  các con đều ở  riêng, và rất  hiền lành . Vì  nhà  gần nơi công quyền,nên khi chính quyền  cách mạng về, gọi là Uỷ ban quân  quản,thì  bỗng có nhiều  người tìm đến nhà tôi.Trụ sở   ấp    chỉ dựng lên để  nơi  người dân  đến  nhận tiền  vay  quĩ Nông Tín,hay  tập trung bọn trẻ con đi  chích ngừa  dịch tả,   hay trồng đậu ngừa dịch hạch (   gọi là  “ trồng đậu” vì tôi  nhớ, cứ  vạch tay áo lên, viên y  sĩ  sẽ  cầm một cái ngòi giống y ngòi viết mực,có hình nhòn nhọn như lá tre, gọi là  ngòi lá  tre, chấm  vào một lọ  thuốc, rồi  vạch lên da  sát vai  ba  vạch. Về nhà  thoạt nghe đau,rồi ngứa, khi  lớp da  bỗng  bung mủ,có đứa thì sưng, rồi  sau đó  để lại một vết sẹo  nom  chẳng khác gì  hạt đậu ngự, nên gọi “ trồng đậu” là thế -tức là   vết  trồng thành công, đứa bé không bị mắc chứng đậu mùa,có khi mặt đầy rỗ chằng chịt, mà rất nhiều  người từng bị  )  thế thôi,  vì  vùng ấp Nghệ Tĩnh  nhà tôi  sống ngày ấy chỉ có   tám chục hộ  dân, hồi ấy gọi là “ gia đình “, nếu cứ tính  trung bình mỗi hộ   bảy nhân khẩu, vì  nhà nào cũng  đông con,thì  cư dân chỉ   trên dưới  năm trăm, nên các hoạt  động khác,  như  đi  bầu cử, hoặc  cấp trên gặp dân,thì kéo nhau lên “khu phố’  nay nằm ở Uỷ ban Phường Tám,và chị Bé bảo,bây giờ là  Trụ Sở của Mặt trận Phường Lâm   Viên, tỉnh Lâm Đồng . Trụ sở là một  ngôi nhà  dường như trống trơn. Người ta  mượn ở nhà tôi  chổi,khăn lau  cho sạch bụi, rồi  cả ly tách ,ấm nước,  rồi   nhờ hai má và cả tôi đi  khiêng bàn ghế từ nơi khác về.. Nhưng  gian nhà  nhỏ bỗng chật chội khi  những món đồ đạc mà cư dân trong ấp  “ bốc vác”từ những  ngôi nhà trên khu phố  giàu đường Phù Đổng Thiên Vương  được thu hồi, tập trung về đây, bàn ghế  giường tủ,  xe đạp, sách báo… có cả  mấy chục  chú heo con từ trại chăn nuôi của một viên trưởng ty cảnh sát, đối diện ngay với   tháp  chuông viện Đại học, cách nhau   đường Phú  Đổng,  mà  người dân buộc đem trả,cũng gửi   vô  gian chuồng bé tẹo nhà tôi, vì ở đây có  người  cho  ăn uống hằng  ngày ( heo Dalat từ lúc  lọt lòng được lau bằng   khăn sạch,cho đến khi hoá kiếp thì chả đòi được tắm rửa,vì tắm thì chúng nó.. đổ  bịnh ! ). Hai má tôi,  so với các  cô  dì cùng tuổi trong ấp, suýt   soát ba mươi ngày ấy, thì  biết đọc biết viết,lại rảnh tay rảnh chân việc nhà,bởi chỉ có mỗi tôi là “ con  lạch chạch”( cái đứa  lẹ tay lẹ chân lẹ mắt,lắm mồm  lắm miệng )nên lại được giao cho việc “ ghi sổ sách, coi ngó” các món ấy. Ba má con bỗng thấy mình bận rộn vô cùng .Một   niềm vui rộn ràng là  đi  họp, gặp gỡ nhiều  người, gần như từ sáng đến tối. Tôi nhanh chóng có tên trong đội thiếu niên ấp, mà chị Bé làm phụ trách. Hai đứa tôi bíu lấy nhau,nhảy cà tưng, cứ như là  đã lâu chưa hề gặp lại,chứ có  ai biết tối nào tôi cũng ôm  gối xuống  nhà ngủ chung với chị ấy,  vì bà này đang học  lớp  Mười Hai,chuẩn bị thi tú tài IBM, tức là thi toàn kiểu ABC khoanh,  rồi bỗng dừng,nên dù sao cũng lo lo , cả ngày hội họp  tối còn hát xướng,nhưng khuya về lại chong đèn ôn bài,tôi đến ngủ cho ấm ! Những lúc cùng rúc  trong chăn,   nhưng cả hai  vẫn thấp thỏm có  người đến gõ cửa, hỏi thăm : hai cái con lạch chạch, giờ này mà đã đi ngủ rồi hả ? Dù trước đó gần hai năm chúng tôi   được ông  Tiến chủ trại cưa trên vùng Cầu Số Mười,đường lên Lạc Dương,nghẹn ngào bảo : chú ấy..  ở ngoài Côn Đảo.. Chỉ mong mai kia hoà bình ra ..thăm mộ ! Và lần đầu tiên   tôi sững sờ vì  bắt gặp một người đàn ông da dẻ luôn đỏ ửng như một ông tây,  ria mép  hài hước, to khoẻ,thế mà hai tay bưng mặt khóc  rưng rức: không có chú ấy, thì cả nhà tôi   giờ này đều  vô Chí Hoà cả…

 Chị Bé được cử đi học lớp tập huấn cán bộ phụ trách Đội.  Người giới thiệu “ chức vụ “ này cho  chú Sằng, gọi là  trưởng ban quân quản ấp ngày ấy là ..tôi, thứ đến là  Hai má tôi.Vì tôi nghĩ, đi   tập trung bọn con nít thì cần biết  chiều chuộng tụi nó,rồi biết hát hò, biết thổi còi đánh morse,   biết tổ chức các trò chơi lớn …mà chị này từng  tham gia phong trào Hướng Đạo, nên hợp lắm. Hồi ấy thanh niên cả ấp cùng tuổi đều có  mặt trong đội văn nghệ, rồi  họp hội thanh niên,mà bà  chị tôi nhút nhát cứ bám lấy tôi, nên  nghe chức này thì nhận ngay.Học bên trường Yersin,hồi ấy có  tên là  Trung tâm giáo dục Hùng Vương, cũng chỉ dành cho  diện con ông cháu cha . Chị đón ngày  Thống Nhất Đất Nước   30.4  trong trường tập huấn ấy.  Buổi về nhà,  lời đầu tiên  thì thầm chị gặp tôi, khi tôi ôm gối xuống ngủ cùng chị ,là : có chú bộ đội nào  tìm ..hai đứa mình không ?

 Tôi  ngơ ngác lắc đầu,rồi cười toe : Có một chú, mà chú này hỏi thăm chị T. Chú ấy muốn tán chị T. Nhưng chị ấy lại ..hình như có ai rồi í !Chị T là chị gái lớn  trong nhà.

Chị Bé  ngồi sững  người, rồi thất vọng  quay đi, sau khi  chán chường  bảo : Nói chuyện với mày ..thôi tao không nói nữa !

   Đến mấy năm sau, khi  cùng đi thi đại học ,tôi mới hiểu “ chú bộ đội tìm hai đứa mình “ là ai .  Chị tôi luôn nhớ mong, chờ đợi, dù  hẳn   dáng vẻ của ông Tiến trại cưa hôm nào khiến chị bàng hoàng và thổn thức nhiều đêm. Vâng,chả ai trách chị  sao cứ hy vọng. Hồi ấy  dù  bận ngày bận đêm, chị  vẫn dành thời  gian dịch cuốn “The Islands of  Greek”  toàn bằng tiếng Anh,một  cuốn  tạp văn về nước Hy Lạp.Lý do là ,chị bảo, chú ấy hồi xưa mơ ước được có dịp ghé nơi này, thăm một cái  ông  nhà tu ở một mình trên hoang đảo, và xứ này  có ngàn hòn đảo, với biết bao    nhiều truyền thuyết  hay  lắm.   Tôi bảo tôi có công tra từ điển,lục tìm   cuốn sách Grammar  English của tác giả Trần Văn Điền để cắt  nghĩa vì sao tác giả lại dùng kiểu câu này, nó có ý nghĩa  gì .. giúp chị dịch cho nhanh, thì cần ghi tên cả  tôi nữa,khi làm món quà tặng “ chú bộ đội  ấy”.  Ngày ấy bọn tôi chẳng hề đi học thêm,môn Tiếng Anh  cũng không thể  ra tận phố,học ở  Hội Việt Mỹ,vì đi  đêm bất tiện vô cùng,nên  tất cả các môn đều tự học , người thầy là  sách, nguồn tri  thức vô tận,  và  một vài  người bạn. Chị Bé có chị  Vĩnh Tiến, cô cái  gái út ông Tiến trại cưa, và hẳn nhiên là tôi !

 Tôi vô tư tham gia đội văn nghệ   thiếu nhi của ấp. Tôi là đứa trẻ lai, hay nói theo kiểu “ nướng bánh mì “ của chị Giang sau này  thì tôi là ổ bánh mì  bị nướng dở chừng,chín mà còn trắng từ  ngoài   vô trong. Hai má  nhặt được tôi ở   nhà ga Gia - rây, Xuân Lộc, Long Khánh,một buổi đi  làm rẫy về. Hai má khen , hồi nhỏ tôi “coi  ngộ lắm,  cứ như con  búp bê vậy”. Rồi tôi theo họ  đến một đồn điền cao su, hai má làm công nhân cạo mủ, rảnh thì may vá  cho người ta, vì dạo ở  trong trại mồ côi, họ được học nghề này ngoài các lớp văn hoá. Và  khi tôi bảy tuổi thì dọn lên ấp này. Tuổi  đẻ thì tôi cầm tinh con cọp. Ai cũng xót xa vì tôi không có cha, không có mẹ  ruột, lại bị liệt một tay do di chứng sốt tê liệt, và lo lắng cho cái số “con cọp” của  tôi: cao số,khó lấy chồng, khó làm ăn ! Tôi  cứ sống hồn nhiên, vì xung quanh tôi cuộc sống là một thế  giới màu hồng dưới con mắt  ngây thơ của tôi.  Khó lấy chồng ư ? Ồ thì hai má tôi đó, đâu có chồng mà vẫn có tôi, vẫn sống  tốt.Khó làm ăn ư? Thì cứ cố  gắng như lời “chú bộ đội “ căn dặn: không được làm chuyện phi pháp,phải thật thà siêng năng,  và  luôn  đưa tay giúp đỡ   người  khổ cực như mình”. Trước  ngày hoà bình,tôi được một tổ chức  của người Mỹ  hỗ trợ tài chính hằng tháng, gọi là  Hội Cha mẹ nuôi quốc tế.Vì tôi là nữ nên  Hội luôn cử  những   người thuộc phái nam làm bố,có khi là một  thương nhân,một công chức,có cả sinh viên đang đi học. Hằng tháng, tôi được nhận một số tiền,tôi không  biết rõ vì hai má đi   nhận,nhưng dư dật cho một đứa bé nông thôn  ăn học. Những dịp lễ lớn thì có quà,   có thêm sách truyện bằng tiếng Anh rất dễ đọc,  rồi cả  vé xem xi nê ở những rạp lớn trong thành phố. Các “ông bố” người Mỹ gửi thư đều đặn hàng tháng, dù  tôi biết họ   bận rộn.Thư họ kể,bây giờ có dịp nhớ lại, đều chứa chan tình cảm  giữa  người với  người.Họ tâm sự với tôi kể cả những niềm vui ,nỗi  buồn lớn  trong gia đình họ,chứ không phải chỉ dừng lại ở  những lời thăm hỏi xã giao. Người giới thiệu tôi  đến tổ chức này chính là “ chú bộ đội” ngày tôi lên bốn,   sau  cơn bịnh kinh hoàng,sốt tê liệt. Vậy mà  giờ khắc hoà  bình, khi mọi  người từng giây phút   hồi hộp chờ  người đến tìm, thì tôi lại vô tâm đến đáng trách.

 Sau ngày  30.4,mọi thứ thay đổi, vì trường học  mở lại, tôi bỗng có nhiều đứa bạn ,còn bạn cũ thì  đi đâu cả. Rồi   mới biết, đứa  đi học trường khác, vì  sau đó hệ trường công lập không còn,  ai ở vùng nào về vùng đó,  đứa   đi vùng kinh tế mới, đứa  ra   nước ngoài,  còn  tôi cứ lớn dần.  Khi tôi ra trường, làm cô giáo,giai đoạn  1985-87,mới rộ lên hiện tượng “ con lai”chứ suốt hăm mấy năm   trôi qua,  trong con mắt mọi  người,ở  Dalat,ở thành phố Hồ  Chí Minh,  tôi là  một công dân Việt Nam.Không phải vì tình trạng thể lý  - liệt tay phải - của tôi, hay do tôi có làn da khác mọi ngươi- mà  ai ai cũng đối xử thân thiện với tôi. Từ tuổi  học mẫu giáo,tôi  được các cô giáo  khen “con nhỏ  tành lanh”tức là  láu lỉnh,  nhanh nhẹn, chứ tôi không dám nhận mình  là đứa   thông minh. Từ tuổi bé tí tẹo, tôi đã hiểu :  đừng làm khác những  gì mà mọi  người từng  cho là đúng, rồi phải luôn cố gắng, đừng sống che đậy, dối trá, biết  nhìn xuống, tức là    có tấm lòng nhân ái.Chị Bé từng khen tôi:hồi nhỏ, Hoa Tre đã  biết sống tốt ,nên  người khác cũng tốt với mình. Coi trên truyền thông, những trang You Tube,  đôi khi tôi nghe những lời tâm tình  của một vài bạn,  vì họ cũng cỡ tuổi tôi, có  người nhỏ hơn, thuộc diện con lai,  sang Mỹ định cư,   họ từng bị cô lập  thời còn bé,khi ở quê nhà . Cũng có thể vài cá nhân riêng lẻ, nhưng   với tôi,thì việc ấy không hề có . Những ngày gia nhập đội  Thiếu niên tiền phong,  tôi bất ngờ biết mình … có máu văn nghệ.Múa,hoạt cảnh, hợp ca, đơn ca,  thậm chí được  cử đi thu âm tận đài phát thanh Tỉnh Lâm Đồng ngày ấy, tôi cũng có tên, có mặt. Tôi nhớ  khuôn viên Đài còn  nhỏ lắm,nằm  trên vùng  đồi trông xuống hồ Xuân Hương. Không phải vì tôi “dựa hơi “chị Bé tổng phụ trách, mà   việc chọn là do các anh chị trên Tỉnh .  Đến bây giờ,trong  tim tôi vẫn bồi hồi ngân vang những câu hát “ Bay lên nào, em bay lên nào/Ngày vui toàn  thắng tưng bừng pháo hoa/Bay lên nào, em bay lên  nào/Vui bạn Nam  Bắc về trong một  nhà.. Chị Giang  thỉnh thoảng  hứng chí   cũng hát khi  cả ba chúng tôi,Giang, Bé, Tre gặp nhau ở  quê các chị hay  nơi tôi đang ở,   Tre bay lên nào..Tre cùng Giang Bé  về trong một  chòi . Ngày ấy,  tiếng  hát  non nớt tuổi  mười  ba  của tôi   vang lên trong làn sóng phát thanh tỉnh, thế mà có mấy  người bạn mãi Hà Nội lắng nghe, rồi gửi  thư đến tận nhà tôi,làm quen,có cả  nam lẫn nữ. Các bạn ở loanh quanh khu tập thể  Nguyễn Công Trứ  Hà Nội. Khu tập thể được xây dựng trên nền đất cũ từng là nghĩa địa của người Pháp. Đây từng là biểu tượng cho cuộc sống văn minh thời kỳ bao cấp với các dãy nhà kiên cố và hành lang chạy dọc ở giữa. Các hộ gia đình cán bộ, công nhân viên chức nhà nước, được chia nhà ở đây từ  1960, chị Giang  giải thích , còn chỉ  dẫn rành mạch,  để như tôi có dịp ra thăm vào  những năm sau thì dễ tìm ,khi tôi quen biết chị  vào dịp tết  1978,chị lên Dalat đón xuân cùng chúng tôi, Nằm tại phường Phố Huế, quận Hai Bà Trưng, khu vực tập trung đông đúc , phố chính của Hà Nội đấy. Tôi cũng mô tả sơ lược về  con đường Nguyễn Công Trứ  phía  sau  nhà tôi,  trước vườn nhà chị Bé, nơi hai má tôi từng làm công ở đây.  Con đường Nguyễn Công Trứ ngày ấy  đìu hiu,một bên là đồi, đồn lính đầy kẽm gai , một bên là thung lũng rau. Nhưng các bạn Hà Nội thì nức nở khen Dalat đủ thứ,nào có rất nhiều loài   hoa đẹp,  phong cảnh thiên nhiên tươi thắm,khí hậu mát mẻ như trời Âu.. Họ có ảnh chụp chung ở sân nhà khu tập thể,chắc hẳn  moi từ album gia đình, gửi cho tôi, còn tôi thì  chọn một ảnh  chụp để dán học bạ,gửi cho họ. Lúc đó tôi đã   có ý đồ chuyển giới,nên tóc hớt tém, vẻ mặt  nghịch ngợm như con trai, cộng với cái tên La Xá Xị khiến nhiều bạn  nam  thích thú,nghe hát sao cứ ngỡ là ..con gái !

 Hồi đó tôi đang  tập  toẹ học đệm đàn ghi ta, tôi nhớ khi tôi    say sưa với điệp khúc :

Đêm pháo hoa,  vang tiếng ca/Hoa lưng trời và  hoa trong ánh mắt/Đất nước mình  bao nhiêu hoa đẹp
 /Bác vun trồng giờ nở hoa dâng  Bác.

 Chị Bé  ngồi bên vỗ tay hát theo,nhưng rồi phút chốc  hai chị em mắt  nhoà lệ.  Chú Chuột Đen,khi tôi biết thì có tên Đa,mãi đến ngày hoà bình ,mới biết tên thật của chú  rất  không giống con trai chút nào . Tên Hoa.

 Sau này ra làm cô giáo,có lần tôi bắt gặp một bài thơ  mà câu nào cũng có một chữ Tím : Nàng mặc màu áo tím,chợt tím cả bầu trời. Tôi về  yêu sắc tím,  và tim tím  hồn  người .. Tôi lại nhớ về những câu hát  ngày  30.4 năm ấy.
Đêm pháo hoa,  vang tiếng ca/Hoa lưng trời và  hoa trong ánh mắt/Đất nước mình  bao nhiêu hoa đẹp
 /Bác vun trồng giờ nở hoa dâng  Bác.


 

 Những ngày   chị Bé đi học rồi đi dạy xa,tôi lên cấp ba, hai má tôi được  nhận làm tạp vụ cho  mấy cơ quan hành chính  trên tỉnh,cũng nhờ  có các chú trong uỷ ban quân quản ngày trước cử đi, vì họ thấy  các má  chân chất, cần cù, lý lịch tốt.Làm việc ở các cơ quan công quyền,nhà lại gần bên trụ sở Uỷ ban ấp,nên  rất nhiều chú cán bộ, bộ đội tìm đến,nhờ tìm  người quen, nhiều nhất là  những  người sinh trưởng từ bên kia vĩ tuyến  17, vào vùng Lâm Viên này định cư,  từ  rất lâu.Họ cũng xem tôi như bao   thiếu nữ thuần Việt,  có  người buột mồm,trời,con  gái  Dalat,ăn rau  ăn quả nhiều nên da dẻ nom tươi   tắn quá nhỉ .

 Tôi xa thành phố với  biết bao kỉ niệm,    để đến  định cư một nơi cuối trời nam.Má Mười  ngó vậy mà lai láng hồn thơ,có lúc  ngồi buồn thì  nỉ non :Tấm áo nâu, rướn mình đi từ cõi rừng cao / Dắt dìu nhau vào đến Cà Mâu, áo ơi / ( Tình ca- Phạm Duy ). Buổi từ   một khu đồn điền  cao su vùng Long Khánh miền đông đất đỏ,có “ chú bộ đội”  dẫn đường, nay về đây có cô Kê,một cô giáo,chồng cũng là một “ chú bộ đội thầy thuốc” chỉ lối,  cho nên dù bao khó khăn,  năm con  người trong nhà đều vượt qua .  Đã có  nhiều  người   đùa : sao hồi có  điều kiện đi Mỹ mà sống cho  sướng,mày hổng chịu đi ! Tôi cũng đùa :ừ hé,rồi cứ tháng tháng tui gửi về cho bà vài thùng ,bà khỏi phải làm gì hết ,sướng thiệt. Nhưng chị ấy  xì ra một hơi dài: ở đâu cũng phải làm cực  khổ mới có ăn. Rồi chị thì thào :có  người  về già cũng muốn về đó.Nói gì thì nói chứ  quê cha đất tổ vẫn là nơi người ta tìm đến khi đã thấm bụi trần . Hai má tôi thì  giải thích theo kiểu “ đi thì   zụt con nó cho ai. Tụi tui chỉ là bà ngoại hờ”.Nhưng tự đáy lòng, đến  bây giờ tôi tự thú mà không thẹn với  lòng ,rằng  tôi muốn ở lại nơi này. Tôi muốn có dịp  ghé thăm mộ “ chú bộ đội” một con người  xa lạ,mà hai má tôi xem như em   út ruột thịt trong nhà,chú ấy cũng coi tôi “ cái con lạch chạch” láu cá,  hai má lo cho mày,mai mốt mày có đi lấy chồng,đẻ con,cũng đừng quên ơn hai má mày đó.

 Báo hiếu, đó là  bổn phận  của kẻ làm con,   và với ba má con tôi, có lẽ Ông Trời thu xếp,cứ đi đến đâu cũng phải có nhau. Tôi đi học   làm cô giáo mà sinh con,phải có hai má   giúp đỡ,chìa cả bốn bàn tay chứ không phải “ đưa tay ra”. Rồi nuôi một lúc ba đứa,liệu thân tôi,chỉ một bàn tay duy nhất,  có làm được không ? Hồi đó,mà  bây giờ cũng vậy,chân tôi   rất to, vì  cả hai chân  nhận lấy công việc của  bàn tay phải bị liệt.  Mỗi khi  đi mua  giày dép,bao giờ tôi cũng lượn lờ ở hàng  “các ông”, vì mọi số  của  phe chị em  ta  tôi   chỉ mua cho hai  má,cho con gái, bây giờ còn mua cho má con cô  Kê nữa,chứ  phần tôi thì ,  tôi tự  chọn.Và do vậy mà  kiểu  nào  ai  trông thấy cũng nhăn mặt :  khiếp,thứ này đàn ông  họ đi,chứ  đàn bà  ai mà  xỏ vô, ngó mà  … Các con  trưởng thành,làm ăn khá giả,  nên muốn tặng má đôi giày, đôi dép,thì   cù rủ má đi  ra hàng  đóng  kiểu, để cho bác thợ đo.  Bọn nó   đôi  bận ra nước ngoài , việc mua sắm đầu tiên là  “ ra  phố giày dép” Trước đó  đi  qua  gặp mấy bà đầm là  dòm dòm thử kiểu các bà mang là  kiểu gì, có khi tọc mạch còn hỏi : thứ này bán ở đâu ?   Bây  giờ,  tuổi già bóng xế,có thể  sống ở  miền quê,mà bởi tôi   muốn   tri ân má con Cô Kê,những  người luôn coi tôi là “ người nhà “, tôi cũng cần có hai má bên cạnh.

 Nhưng người luôn cho tôi một  hướng đi,phù hợp với cảnh ngộ của mình,cho tôi niềm lạc quan  trước gian khó,cho tôi ý chí  để chiến thắng bản thân và  nghịch cảnh,cho tôi tri thức để tôi biết nhận định đúng sai,phải trái  giữa một xã hội  ngày ngày  biến đổi không ngừng, cho tôi một niềm tin,để tôi  luôn hy vọng,thì hình bóng “chú bộ đội” năm xưa lại hiện về.



 Chúng tôi đã có  dịp đi  viếng mộ chú ấy ngoài Côn Đảo.  Ở đây,  có  khắc một bài thơ của cụ   Cụ Phan Chu Trinh viết trong những năm tháng bị giam cầm ở đây.  Với cụ,  sống  những ngày ở Côn Đảo là một  hệ quả tất yếu của  mọi kẻ mang hai chữ “ làm trai” trên con đường cứu nước,bởi đó là tư thế “ đứng  giữa đất Côn Lôn”. Cả bài thơ dồn vào  cặp  tính từ láy “  lừng lẫy”,   mô tả    phẩm chất của một  con người  với  danh tiếng vang dội, được biết đến rộng rãi với sự ngưỡng mộ. Trong  suốt hơn nửa đời  người, tôi đã   tiễn    đưa bao  người  thân, bạn bè  đến nơi  an nghỉ cuối cùng,nghĩa trang nào cũng bề thế, san sát  những vòm mộ bia được   tạc đá,khắc chữ  nghiêm cẩn,có   nơi đồ sộ  như một  ngôi  nhà   của  người  đi xa .Còn nơi chúng tôi tìm đến.. Có một thông số nhiều  người trong chúng tôi  biết khi đến.Trong số hơn 1.900 phần mộ tại nghĩa trang Hàng Dương Côn Đảo, chỉ 713 ngôi mộ có thể xác định danh tính. Mộ “chú bộ đội thân yêu “của chúng tôi ở đâu? Có trong  713  ngôi mộ có tên,nay là số của hơn  tám trăm  ngôi mộ còn  lại. ? Chúng tôi đến vào giữa trưa,miền biển  nhiệt đới phương Nam lồng lộng  gió,  đi  ngoài đường nắng đổ  lửa trên đầu,nhưng nơi đây thật mát,bởi có  vô số  bóng cây xanh  toả  bốn bề,  những hàng bia   hiện ra trước mắt chúng tôi  là  những chiếc trụ cột  đơn giản,bên trên có gắn những khối  hộp có   khắc  một ngôi sao  đỏ chói,tượng trưng ánh sáng của Đảng.   Mỗi khuôn mộ là một khối đá đen  chữ nhật, cũng nhỏ  nhắn như  phù hợp  cột bia,   nằm rải rác, đều đặn  khắp một vùng  cỏ   xanh  rộng  hút tầm mắt . Chúng tôi đứng thẩn thờ,nhoà lệ. Người thân yêu năm xưa của chúng tôi đang ở đây,nhưng ở     đâu? Không,  anh ấy   đang ở  đây,   rất gần với chúng tôi.  Tôi chợt nhớ những  năm tháng tôi còn bé,anh lúc ấy là một thanh niên đôi mươi,   trai tráng,khoẻ mạnh, tươi tắn,   một  tối xuất hiện ở nhà tôi, áo  quần nhuốm đầy  đất đỏ. Má Mười tôi la lên:

- Mày ở đâu ra,  đất vườn giờ này đầy sình mà ?

- Ối,  đất này quí lắm, tận…

 Anh ngắc ngứ, đưa tay chỉ .  Khi cả bọn gồm hai bà chị   Vĩnh và Bé  vặn tra, anh  bảo:

-Tao  xuống hầm sâu,cho biết.

 Ừ thì  vùng quê tôi nhiều nơi người ta cũng đào hầm,  bởi chiến tranh thì  sống ở hầm   tránh bom đạn là lẽ đương nhiên. Bỗng  chú bộ đội ấy thì thầm :

- Ai   rồi cũng một lần xuống !

 Và như sợ chúng tôi  có cái  bản chất “lạch chạch “ vặn vẹo ,anh thêm như  để kết thúc câu chuyện về “ bộ  quần  áo  nhuốm đầy đất  đỏ “:

- Mai mốt tụi bay lớn lên, khi đó biết đâu thanh bình rồi, đi học  người ta cho đến  .. chỗ có hầm, hầm có súng ống đủ thứ, thì  cố gắng xuống coi cho biết.

 Rồi anh quay ngoắt đi,bao giờ cũng vậy, vì anh này rất  bận rộn :

- Thôi,  tao  nói  vậy thôi, đừng thắc mắc làm chi cho mệt. Tao có nhiều thứ phải lo, tụi bay cũng  vậy, mà ai cũng vậy hết !

 Những năm học đại học,nhà trường đã tổ chức cho chúng tôi đến viếng địa đạo Củ Chi một lần . Tôi chợt  như thấy anh đứng đó,ôm bộ  đồ    bám đầy đất,  miệng  thì thầm:Ai   rồi cũng một lần xuống. Bất giác tôi đưa mắt  nhìn quanh.Hồi ấy tôi  vừa đi kiến tập sư phạm ở năm học thứ ba, bi quan lắm, vì ở trường  phổ thông,  chỉ có vài lời về cánh tay tôi, khiến tôi đau đớn ,trong khi ba đứa bé   và hai má lại đổ bịnh cùng một lúc… Tôi hiểu,   trước khi nằm xuống thì hãy  đứng    thẳng,    và  nhớ “gian nan chỉ là chuyện con con”. Tôi nhớ đến một cây tiếng Anh dán ở đầu bàn học của anh bên nhà ông Cửu Điền ở   đường  Nguyễn  Công  Trứ   người chú  họ đã  dẫn anh ngoài  quê vào đây : To be a man,one must  suffer the  blows of misfortunes.  Khi học  đến tập thơ Nhật ký trong tù của Bác Hồ,chúng tôi hiểu, à đây là lời Bác tự động viên mình  giữa chốn lao tù xứ  người :  Sống ở trên đời, người cũng vậy/ gian nan rèn luyện mới thành công.

 Bây giờ  thì anh ở trong lòng đất nơi này,đất Côn Đảo có  màu nâu trầm, nâu đỏ ,nhiều đá,thứ  đất  đồi núi và các phiến cổ thạch lâu năm. không  phù hợp cho    các loại cây rau  mềm mại miền ôn đới cao nguyên nơi anh  trưởng thành, gắn bó, cũng không phải  là vùng nhiều phù sa cho  lúa  tốt tươi ở miền tây sông nước tôi về, mà    Anh tự  nguyện  đến nơi này,  vì anh  đã có những tháng ngày “mưa nắng chi sờn dạ sắt son”. Anh chết tốt vì anh đã từng sống tốt. Dẫu  còn lại ở Anh là  tấm bia  cột đá,khuôn mộ cũng  là khối đá  vuông vuông,nhưng tất cả sẽ trường tồn với thời gian. Bởi  nối   tiếp bước chân anh cho  lớp lớp thế hệ đàn em  năm mươi năm qua  không dừng lại.

Từ ngày mà đêm đêm co ro trong chăn,chúng tôi phập phồng chờ có chú bộ đội đến gõ cửa,hỏi han,mắng mỏ mà vui mừng,bây giờ đã qua năm mươi năm  lẻ. Người thiếu nữ thổn thức hằng đêm nay lại trở về  ngôi nhà xưa,sống  ẩn dật nhưng không cô độc. Cuộc sống ngày nay khiến không một ai thấy cô đơn lẻ bóng.Bước ra đường là  phố xá ngựa xe  xuôi ngược,  về nhà nào là  ti vi, lap top,điện thoại,  rồi bao con người,chỉ alo, hay email.  Đi khám bịnh, chợ búa,thăm viếng cũng trở nên đơn  giản. Người anh ,chú bộ đội đi  xa, nhưng anh vẫn rất gần,vì anh đã giao nhiệm vụ ấy cho một  người khác . Anh ấy là Chuột Đen,còn  người kia là Mèo Mun,  cùng từng lo lắng, cũng mắng mỏ, và  yêu cầu cao đối với bà  giáo này.  Những năm tháng  đã qua, từng thấm thía “ dẫu mưa nắng,trái đất tròn vẫn đẹp” nên  luôn ý thức “đời yêu ta, ta phải thắng cho đời”.Họ đang sống như Ngưu Lang- Chức Nữ, nhưng hề gì,ngày xưa  mỗi tháng bảy  phải  cầu cứu các chú quạ bắc cầu Ô Thước, nay thì   nhiều    phương tiện  hiện hữu hơn.  Thôi cứ như thế cũng được,dù  chị Bé bị di chứng chất  da cam nên ngày đêm khốn khổ với bao  căn bịnh tuổi tác, nhưng vẫn lạc quan.Có chút lương hưu, cả tiền  thừa kế,rồi có niềm vui, và sức khoẻ không chỉ là mặt thể lý,mà con tinh thần,nên cứ sống tốt, thì mai kia  sẽ  một lần xuống đất  thôi.

                          Hoa Tre .

 

 

 

 

No comments:

Post a Comment